Giáo Hạt Bột Đà: doc-suy-ngam
Hiển thị các bài đăng có nhãn doc-suy-ngam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn doc-suy-ngam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Phê bình thuyết vô thần của Karl Marx* (phần II)


lamhong - PHÊ BÌNH LÝ THUYẾT VÔ THẦN CỦA MARX
A. Chủ thuyết Marx nhắc nhở chúng ta một vài chân lý:

1. Marx nhắc nhở con người phải ý thức về vai trò chủ động của họ trong công trình biến cải vũ trụ cũng như về bản chất cộng đoàn mà con người được mời gọi tham dự. Marx đã có lý khi lên án một lý tưởng Kitô giáo hoàn toàn theo cá nhân chủ nghĩa “cứu linh hồn mình” mà quên hạnh phúc trần gian và cứu rỗi tha nhân.



2. Vì lý do gì Marx đã có thể nhân danh tình người để bài bác Kitô giáo trong khi giới răn căn bản của Kitô giáo lại chính là bác ái đại đồng? Phải nhìn nhận rằng “nhiều Kitô hữu thế kỷ XIX đã không ý thức đầy đủ về các biến đổi kinh tế trước mắt họ, chưa ý thức vai trò trần thế mà đức công bằng và lòng bác ái đòi buộc họ phải thực hiện. Phải chăng người Kitô hữu lại không có bổn phận đi tiên phong trong việc tranh đấu cho giới bần cùng và cho công cuộc thăng tiến xã hội của giới này sao? Tháng 10 năm 1846, Marx soạn thảo bài mở đầu và những quy chế của Liên Hiệp thợ thuyền quốc tế tiên khởi, thế mà mãi 50 năm sau mới có một Đức Giáo Hoàng công bố thông điệp đầu tiên về xã hội…”.

3. Cũng cần nhắc lại hình ảnh méo mó về Kitô giáo dưới cái nhìn của Marx: đó là phái Luther suy đồi hoàn toàn theo cá nhân chủ nghĩa, thường là công cụ chính trị trong tay nhà nước.

4. Sau hết chúng ta nên nhắc lại một vài điếm mà Công Đồng vừa qua đã không ngại nêu lên. Sở dĩ có nhiều cuộc cách mạng xã hội đã mang tính cách bài giáo, chính vì sự tham gia của các tín hữu vào chế độ bất công và áp bức. Hiến chế công đồng về Giáo Hội trong thế giới ngày nay thành thật nhìn nhận người Kitô hữu chịu trách nhiệm về việc phát sinh chủ nghĩa vô thần: “Các tín hữu có thể chịu một phần trách nhiệm không nhỏ trong việc khai sinh chủ nghĩa vô thần, hoặc bởi xao nhãng việc giáo dục đức tin, bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Có thể nói rằng họ che dấu thay vì bày tỏ một bộ mặt đích thực của Thượng đế và tôn giáo” (MV số 19).

Cũng vậy, thông điệp “Phát triển các dân tộc” nhắc nhở chúng ta con đường phải theo hầu giải phóng chúng ta khỏi “các cơ chế áp bức phát xuất từ những lạm dụng về sở hữu hoặc quyền hành, từ sự bóc lột cần lao hoặc bất công trong vấn đề giao dịch” (Số 21).

B. Một mâu thuẫn ngay trong chủ thuyết của Marx

Marx cho rằng thực tại căn bản tối hậu chính là thực tại lịch sử cụ thể, tức những tổng hợp tương quan xã hội. Sự kế tiếp của những tập hợp tương quan này diễn ra một cách hợp lý và tiến đến một tổng hợp chung kết. Như vậy lịch sử có một ý nghĩa. Xét như một toàn bộ thì nó có thể hiểu được.

Nhưng khi thừa nhận điều đó, chủ thuyết của Marx lại tự mâu thuẫn vì thuyết này chủ trương tri thức con người bị quy định bởi giây phút hiện tại mà thôi. “Tri thức con người chỉ là một phản ảnh của sự hữu, và cùng lắm cũng chỉ là một phản ảnh gần đúng” (Lénine).

Chúng ta có thể chất vấn Marx như sau:

* Hoặc con người có thể phát biểu một chân lý chắc chắn về toàn thể biến trình nhân loại.Nhưng điều đó giả thiết con người phải siêu vượt tình trạng “phản ảnh lịch sử” của họ. Làm thế nào con người có thể tri thức ý nghĩa chung cuộc của lịch sử, nếu không vượt qua giây phút lịch sử họ đang sống, nhờ một tri thức vững chắc? Thế mà theo các nguyên tắc của Marx, con người không thể vượt qua những giây phút lịch sử đang sống.

* Hoặc không được nói đến lịch sử trong toàn bộ của nó và chỉ có quyền quả quyết rằng chỉ có những dự phóng tự do của con người trong từng giây phút mới tạo ra ý nghĩa lịch sử. Nhưng nói như thế là đã ra ngoài chủ thuyết của Marx để rơi vào hiện sinh vô thần.

Sartre nêu rõ sự thiếu mạch lạc đó như sau:

“Nếu sự kiện tâm lý hoàn toàn bị quy định bởi sự kiện sinh vật và sự kiện sinh vật lại bị quy định bởi trạng thái vật lý của thế giới, thì tôi thấy rằng ý thức con người có thể diễn tả vũ trụ tương tự như hậu quả diễn tả nguyên nhân, chứ không phải như tư tưởng diễn tả đối tượng. Một lý trí bị giam hãm, bị điều khiển bởi ngoại giới, bị xách động bởi những nguyên nhân mù quáng, làm sao còn có thể là một lý trí? Làm sao tôi có thể tin vào những nguyên tắc do tôi suy diễn, nếu chính biến cố bên ngoài đã đặt chúng vào trong tôi? Thử xem Lénine nói gì về ý thức của chúng ta: “Nó là phản ảnh của sự hữu, và cùng làm cũng chỉ phản ảnh gần đúng. Nhưng như thế ai dám cho rằng trường hợp hiện tại, nghĩa là chủ thuyết duy vật, là “trường hợp tốt nhất”? Có lẽ một trật vừa phải ở ngoài vừa phải ở trong thuyết đó mới có thể so sánh được. Và vì điều này không thể là vấn đề phải đặt ra ở đây, nên chúng ta không có một tiêu chuẩn nào để thẩm định giá trị của “phản ảnh”, ngoại trừ những tiêu chuẩn nội tại, chủ quan: sự thích hợp…, rõ ràng, phân minh, thường hằng của nó. Tóm lại, đó là những tiêu chuẩn duy tâm”.

C. Một bản văn đáng chú ý trong những thủ bản năm 1884

Đây là một trong những bản văn hiếm hoi trong đó Marx đã trình bày những tư tưởng của mình theo cách thức mà ông cho là triết học, liên quan đến vấn đề vô thần và sự biện minh cho vấn đề đó. Ông đã đối lập ý tưởng về nhân loại là nguyên lý (nguyên nhân) tạo ra chính mình với ý tưởng về Thượng Đế sáng tạo. Trong các Thủ Bản năm 1884, bản dịch của Emile Botigelli, tr.97-98, Editions Sociales, Paris (1962):

1. Một chủ thể chỉ bắt đầu độc lập khi nó tự làm chủ lấy mình và nó chỉ làm chủ lấy mình khi nó tự hiện hữu. Một người sống nhờ kẻ khác, thì bị coi là lệ thuộc. Nhưng tôi sẽ là người sống hoàn toàn lệ thuộc vào người ta, nếu tôi nhờ vào người đó để duy trì cuộc sống, mà hơn nữa nếu tôi chấp nhận họ là người đã tạo dựng nên tôi, là cội nguồn của tôi. Như thế, sự sống của tôi nhất thiết phải có một căn nguyên tương tự ở bên ngoài tôi, nếu nó không phải là sự sáng tạo độc đáo của riêng tôi. Vì thế, sự sáng tạo là một ý tưởng rất khó xua đuổi tâm thức bình dân. Thiên nhiên và con người tự hiện hữu, đó là một sự kiện không thể hiểu được đối với tâm thức bình dân, vì nó đi ngược lại với tất cả những điều hiển nhiên trong đời sống thực tiễn”[1].

Qua ý tưởng trên, chúng ta thấy được lập trường căn bản của thuyết vô thần của Marx. Đặc điểm của con người bị vong thân chính là nhận biết thân phận thụ tạo và hiện hữu của mình lệ thuộc vào Đấng sáng tạo. Trái lại, người theo chủ thuyết của Marx là người đã hiểu rằng chính mình tự hiện hữu.

Dường như K. Marx lẫn lộn sự độc lập kinh tế và xã hội với sự độc lập hữu thể, là sự độc lập thuộc một bình diện khác. Marx xác quyết rằng con người hoàn toàn tự mình hiện hữu, nhưng ông lại không đưa ra một bằng chứng nào cho vấn đề này. Sự độc lập kinh tế và xã hội mà chúng ta phải luôn luôn thăng tiến thì hoàn toàn không làm cho con người trở thành “tự hữu” được. Duy chỉ có một Hữu thể tuyệt đối (Thượng Đế) mới không lệ thuộc vào cái gì khác ngoài mình. Marx đã gán cho con người những đặc tính thần linh. Nhưng, thực tế hiển nhiên đã chứng minh ngược lại.

2. “Thuyết sáng tạo địa cầu đã bị lung lay mạnh bởi khoa địa cầu cấu tạo học. Theo khoa này, trái đất được cấu tạo và biến dịch như một tiến trình tự sinh. Sự ngẫu sinh là lý chứng thực tiễn duy nhất chống lại thuyết sáng tạo”[2].

Ở đây, có sự lầm lẫn hoàn toàn giữa giải thích khoa học và giải thịch hữu thể học. Đó là một võng luận vụng về (paralogisme).

Thực vậy, những khoa học về địa cầu, về thiên nhiên nói chung, đã cho chúng ta thấy trái đất từ từ được cấu tạo như thế nào, thiên nhiên đã tăng triển ra sao. Sự tiến hóa của vũ trụ vật chất và sinh vật là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Mọi người dù có tín ngưỡng hay không cũng đều chấp nhận thành quả của nó. Nhưng việc nhận thức được tiến trình cấu tạo của trái đất hoàn toàn không cho phép chúng ta nói thêm rằng tiến trình này là một sự tự sinh, nghĩa là một tiến trình ta có thể giải thích bằng chính nó mà không cần một nguyên nhân sáng tạo nào.

Tresmontant đưa ra nhận xét sau đây: Nếu cho rằng sự tiến hóa này tự nhiên mà có và chúng ta có thể giải thích hoàn toàn bằng chính nó, tức là người ta đã trả lời được vấn đề về hữu thể do sự kiện tiến hóa đặt ra, nhưng như vậy là họ đã không nghiên cứu đúng đắn vấn đề. Người ta đã đưa ra một giải đáp độc đoán trước khi phân tích vấn đề. Tuy không nói ra nhưng người ta đã đem vào lĩnh vực khoa học một lập trường hữu thể học. Thế nhưng trong lĩnh vực khoa học, những khoa học về địa cầu và sự sống không bao giờ (và cũng sẽ không bao giờ) thiết định rằng sự tiến hóa có thể tự nó đem lại một giải thích đầy đủ về phương diện hữu thể học. Một khẳng định như thế có thể là kết luận của việc phân tích hữu thể học. Tất cả vấn đề là ở đấy, nhưng lại không được Karl Marx bàn đến. Cái sai lầm cả thể của Marx là đã coi kết luận của ông như một kết quả của khoa học. Nhưng khoa học, với tư cách là khoa học, không muốn và không thể trả lời đúng hay sai cho vấn đề này, một vấn đề thuộc phạm vi hữu thể học. Lập trường này tạo thêm một thứ phiếm thần mới. Thật thế, để vật chất có thể tự mình tiến hóa từ vật chất thô sơ đến sinh chất, từ sinh chất đến con người có lý trí, dĩ nhiên là phải gán cho vật chất này tất cả những đặc tính của một hữu thể tuyệt đối và thần linh. Nhưng đó lại là một lập trường hữu thể học, không thuộc phạm vi khoa học, vì khoa học không đề cập đến vấn đề này.

3. “Xin trình bày lại với mỗi người điều Aristote đã nói: Anh được cha mẹ anh sinh ra nghĩa là do chính sự giao hợp của hai người. Vậy chính tác động chủng loại của con người đã tạo nên con người anh. Như thế, anh thấy rằng ngay cả trong phương diện vật lý, con người nhận sự hiện hữu từ con người. Anh không nên chỉ xét khía cạnh của vấn đề, tức cái tiến trình vô định đã làm anh thắc mắc: Ai đã sinh ra cha tôi, ai đã sinh ra ông nội tôi…? Cuối cùng anh vẫn phải chấp nhận sự vận chuyển vòng quanh mà trong đó con người, khi sinh sản, lập lại chính mình, tức là con người vẫn luôn là chủ thể”![3]

Ta có thể tóm tắt luận chứng của Marx như sau: con người sinh ra con người, và do đó con người tự hiện hữu do mình và chỉ do chính mình. Và Marx đã nói đến thứ vận chuyển vòng quanh. Ai lại không biết người sinh ra người! Nhưng trước hết chúng ta hãy lưu ý rằng đây hoàn toàn không phải là một vận chuyển vòng quanh. Sự thông truyền của “luật truyền sinh” (code génétique) (theo ngôn từ sinh vật học hiện đại) không có gì là vòng luẩn quẩn. Sự lưu truyền luật này từ cha mẹ đến con cái được ghi khắc trong lịch sử tự nhiên của loài người. Sự lưu truyền này không phải là một sự sáng tạo. Đâu là nguồn gốc của luật này (hay theo ngôn ngữ thế kỷ XIX, nguồn gốc của nhân loại), đó chính là vấn đề triết lý.

Marx muốn tránh né vấn đề nên ông chỉ biết lập luận rằng con người sinh ra con người, mà trả lời vấn nạn chính ở đây là: xét cho cùng do đâu mà có những động lực, những quy tắc, luật di truyền mà con người truyền lại cho con cháu trong khi họ không phải là kẻ sáng tạo nên những luật đó. Tóm lại Marx lẫn lộn sự thông truyền “luật di truyền” với sự sáng tạo ra luật này (theo ngôn ngữ cổ điển hơn, người ta có thể nói: “Marx đã lẫn lộn những nguyên nhân đệ nhị với nguyên nhân căn bản của vạn vật tức là nguyên nhân sáng tạo). “Nguyên nhân tính của Thượng Đế không cạnh tranh với hữu thể và hành động của thiên nhiên, nhưng nằm trong một bình diện khác”.

4. “Bạn sẽ trả lời tôi rằng: Được rồi tôi chấp nhận cái chuyển động vòng tròn đó, nhưng đến lượt ông, ông hãy chấp nhận cái tiến trình luôn đưa tôi đi xa hơn, cho đến lúc tôi hỏi ai đã sinh ra con người đầu tiên và thiên nhiên nói chung. Tôi chỉ có thể trả lời bạn thế này: vấn nạn của bạn chính là một sản phẩm của trừu xuất. Bạn hãy tự hỏi lại xem tại sao bạn có thể đặt ra vấn nạn đó. Bạn thử nghĩ biết đâu câu hỏi của bạn không đến từ một quan điểm (…) sai lầm nào đó. Thử hỏi tiến trình đó có thể hiện hữu đối với một tư tưởng thuần lý không? Lúc bạn hỏi về việc tạo dựng thiên nhiên và con người tức là bạn đã trừu xuất thiên nhiên và con người rồi. Như thế là bạn xem chúng như không hiện hữu vậy. Trong khi đó bạn lại muốn tôi chứng minh chúng như là hiện hữu. Này bạn, bạn hãy gạt bỏ lối trừu xuất của bạn đi, bạn sẽ không còn thắc mắc về câu hỏi đó nữa. Hay là nếu bạn muốn giữ lại lối trừu xuất đó, thì hãy làm sao cho hợp lý, (…) lẽ nào bạn nghĩ mình không hiện hữu, trong khi thật sự bạn vẫn là bản tính và con người. Thôi bạn đừng suy nghĩ nữa, đừng tra vấn tôi nữa. Vì ngay lúc bạn say nghĩ, bạn đặt vấn nạn, thì sự trừu xuất về thiên nhiên và con người không còn ý nghĩa gì nữa[4].

Ở đây Marx chống lại vấn đề nguồn gốc và vấn đề tạo dựng. Để giải đáp, Marx cho rằng vấn đề đó không có nghĩa gì cả, vì đó hoàn toàn là một sự trừu xuất. Ông nói thêm rằng muốn đặt vấn đề nguồn gốc và dĩ nhiên cả vấn đề tạo dựng, thì trước hết phải tưởng tượng rằng trước đó con người không hiện hữu, rồi sau đó con người bắt đầu hiện hữu; và thiên nhiên cũng vậy, trước đó không hiện hữu rồi sau đó mới bắt đầu hiện hữu. Như thế, theo Marx thì điều đó phi lý và không hợp thức (ở đây hình như Marx muốn ru ngủ mọi vấn đề bằng thuốc phiện…). Phủ nhận thiên nhiên và con người là một điều không thể được. Và như vậy, vấn đề nguồn gốc (giả thiết trước đó không có thiên nhiên và con người) là một vấn đề giả tạo.

Ở đây, Marx lầm lẫn giữa suy tưởng và hình dung. Chắc chắn là bao lâu còn sống, con người không thể nào hình dung mình như là không hiện hữu. Tôi biết chắc chắn là năm 1900 tôi chưa hiện hữu. Tôi suy tưởng điều đó mà không có mâu thuẫn tí nào, rất đúng là đàng khác, cho dù trí tưởng tượng của tôi không thể tưởng tượng được điều đó. (Người ta không thể tưởng tượng hình ảnh của một vật không hiện hữu). Đối với thiên nhiên cũng vậy. Nếu những điều Marx đưa ra đều đúng cả, thì phải đi đến kết luận rằng thế giới và con người đã luôn luôn hiện hữu. Đó là điểm sai rõ rệt nhất, ít là trong trường hợp con người.

Marx bị bó buộc phải kết luận rằng thiên nhiên là vĩnh cửu vì thiên nhiên là thực tại duy nhất. Giả sử trước đó thiên nhiên không hiện hữu, thì nó cũng đã không bao giờ có thể hiện hữu được (vì theo giả thuyết này thì Thượng Đế không hiện hữu).

Nhưng nếu gạt bỏ vấn đề thời gian ra ngoài, thì vấn đề tạo dựng không còn liên hệ tới vấn đề thời gian hữu hạn hay vô cùng. Thánh Tôma đã thấy rõ rằng cho dù thế giới có một bắt đầu nào đó hay không trong thời gian, thì điều đó vẫn không thay đổi được vấn đề là thế giới có tuyệt đối, có tự hữu hay không. Một thực tại bất tất, dù hiện hữu đời đời, cũng sẽ đòi hỏi từ đời đời một nguyên nhân tuyệt đối, không bất tất. Bất tất tính chi phối mọi giây phút của thiên nhiên (hay của vũ trụ). Những giây phút đó, dù vô hạn hay hữu hạn, cũng không làm mất bất tất tính đó được. Hay nói theo những thí dụ cổ điển, một con kênh có dài đến vô tận cũng không cho được một nguồn nước. Một cái cán bút có dài đến vô tận cũng không cho phép ngòi bút viết một mình!

5. “Bạn có thể bắt bẻ rằng: Tôi không muốn đặt vấn đề thiên nhiên không hiện hữu v.v…, tôi muốn ông cho tôi biết thiên nhiên khai nguyên thế nào, giống như tôi xin nhà cơ thể học cho tôi biết sự cấu tạo của xương v.v… Nhưng đối với người theo chủ nghĩa xã hội, thì tất cả cái gọi là lịch sử của thế giới, sẽ không là gì khác ngoài sự sản xuất của con người nhờ cần lao, ngoài sự biến dịch của thiên nhiên để phục vụ con người. Như vậy người theo chủ nghĩa xã hội có một bằng chứng trực giác, không thể chối cãi về sự tự hữu của mình, của quá trình nguồn gốc của mình. Vì đặc tính cốt yếu của con người và của thiên nhiên đối với con người (theo chủ nghĩa xã hội) đã trở nên khả giác và hữu hình (…) cho nên vấn nạn về một hữu thể xa lạ, – một hữu thể vượt lên trên thiên nhiên và con người – vấn nạn bao hàm tính chất bất tất của thiên nhiên và của con người -, vấn nạn như thế thực tế không thể có được”. (Trong phân tiếp theo, Marx tuyên bố rằng ngay cả vô thần, tức sự phủ nhận Thượng Đế, cũng sẽ tự biến mất như chủ trương hữu thần, vì bấy giờ người ta sẽ không còn đặt vấn đề ấy nữa)[5].

Ở đây Marx rất khôn khéo. Ông chơi chữ về ý nghĩa của tiếng “cốt yếu” (essentiel). Thật ra chính Kitô hữu là người đầu tiên chấp nhận con người là một hữu thể cốt yếu, là cùng đích của mọi loài tạo vật, được mời gọi tham dự vào chính sự sống của Thượng Đế. Một cách nào đó, chính Thượng Đế tự hạ mình đến độ nhập thể vì yêu thương con người… Nhưng Marx lại đi từ đặc tínhcốt yếu này đến tính tuyệt đối. Với Marx thì cốt yếu và tuyệt đối đồng nhất với nhau. Đó là điểm hàm hồ đầu tiên.

Điểm hàm hồ khác là con người tự tạo lấy chính mình. Chắc chắn là nhờ việc làm và kỹ nghệ, nghệ thuật và trong các khoa học, con người tự hoàn bị, tự “xây dựng” lấy chính mình. Và còn đúng hơn nữa khi con người đi vào những phạm vi mật thiết nhất của nguồn gốc sự sống. Nhưng để cộng tác vào việc tạo thành nhân loại, trước tiên con người phải hiện hữu đã. Và không phải nhờ việc làm con người mới tạo cho mình sự hiện hữu, một sự hiện hữu theo nghĩa đích thực của nó. Thành ngữ “tự tạo” (causa sui) mà Descartes và Spinoza gán cho Thượng Đế để diễn tả đặc tính Hữu Thể tuyệt đối hoàn hảo của Ngài, ở đây đã được Marx gán cho con người. Điều đó phi lý, phải nói thẳng như vậy. Ngay cả ông tổ loài người cũng đã nhận lãnh sự hiện hữu như tất cả mọi người. Ông đã không tự cho mình hiện hữu nhờ việc làm của đôi tay ông.

Ngược lại, người Kitô hữu không nên quên sự cao cả của con người. Một giáo phụ nói: “Vinh quang của Thượng Đế, chính là con người đang sống”. Chúng ta có thể diễn tả bằng ngôn ngữ ngày nay: Vinh quang của Thượng Đế chính là con người tự do và trách nhiệm, con người kiến tạo ở mọi mức độ, là con người của kinh tế hay của kỹ thuật, của nghệ thuật hay của triết lý. Việc chấp nhận Thượng Đế không làm trở ngại sáng kiến của con người nhưng khai mở nhân loại đến sự khởi vượt vô biên.

D. Một thuyết nhân bản thiếu sót và giản lược

1. Điều đáng chú ý hơn cả trong chủ thuyết nhân bản của Marx là thiếu tôn trọng mọi chiều kíchcủa nhân phẩm. Con người và kinh nghiệm nhân bản bị giản lược vào một chiều kích duy nhất là chiều kích kinh tế và xã hội (x. L’homme unidimentionnel, của Marcuse, Paris 1968).

Thực vậy chủ thuyết của Marx chỉ thấy được một chiều kích duy nhất trong sự hiện hữu của con người và trong đà tiến của tự do. Đà tiến này nâng đỡ và gắn liền với chủ thuyết. Con người chỉ là một một hữu thể được mời gọi thắng vượt các sức mạnh của thiên nhiên và san bằng mọi chênh lệch xã hội và kinh tế. Dĩ nhiên công cuộc chinh phục này rất quan trọng và không nên coi thường. Cũng thế, mọi người phải đấu tranh chống lại những bất công xã hội. Nhưng đối với Marx thì con người chỉ có thế. Trong viễn tượng đó, Thượng Đế trở nên dư thừa.

2. Trong con người còn có một ý nghĩa sâu xa hơn ý nghĩa kinh tế nhiều. Con người nhận thức mình như một huyền nhiệm, một hữu thể có trách nhiệm, một hữu thể đạo đức, ý thức mình bị bó buộc theo các quy luật siêu vượt chủng tộc, quốc gia, kinh tế… Tình yêu, tình bạn, vinh dự, bác ái…, tất cả không thể giản lược vào lãnh vực kinh tế và xã hội được. Bảo rằng tất cả điều đó chỉ là phản chiếu các hoàn cảnh thuần vật chất thì thật dễ dàng, nhưng cần phải chứng minh điều ấy.

Những tiến bộ của khoa tâm lý học chiều sâu đã mở rộng một cách đáng kể kiến thức của ta về những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến con người. Xã hội và tiến bộ kinh tế không hủy bỏ được những mặc cảm, sự ghen tương, và những bản năng phá hoại, cũng như không hủy bỏ được việc phân phối không đồng đều những ân huệ, tài năng và những may lành, phúc lộc do những tài năng đó đem lại. Thực hiện được một nền kinh tế lý tưởng cũng không thể giải đáp ổn thỏa các vấn đềcá nhân và không thỏa mãn mọi nguyện vọng của con người. “Giản lược lương tri con người vào ý thức xã hội của họ chính là một sai lầm không thể chối cãi được. Dù Marx nghĩ thế nào đi nữa, những tương giao của con người cũng chỉ tùy thuộc rất ít vào trung gian cần lao và sản xuất. Các tương giao ấy là tình yêu và tình bạn, chúng chỉ có thể được diễn tả bằng những hạn từ liên chủ thể” (J.M van Cangh).

3. Marx tin rằng xã hội vô giai cấp sẽ xóa bỏ được mọi vấn đề. Thế mà ngược lại, con người băn khoăn về ý nghĩa sau cùng của sự sống và sự chết, sự ác và tình yêu. “ Cho dù luôn muốn được bất tử, con người vẫn luôn bị dày vò bởi cái vô cùng”. Cái chết là sự vong thân căn bản mà những người theo chủ thuyết của Marx đành bó tay không giải đáp được. “Phải chăng chỉ cần tuyên bố rằng sự hy sinh hôm nay sẽ ích lợi cho nhân loại ngày mai là đủ? Sự bất tử của cộng đồng không thay thế được sự bất tử cá nhân, cũng không thể làm cho kẻ hấp hối an tâm trở về cát bụi”. Marx đã tránh né vấn đề bằng cách tạo ra một huyền thoại về một xã hội lý tưởng ngày mai. Nhưng có phải xã hội tương lai này sẽ không bao gồm những cá nhân phải đương đầu với những vấn đề như hôm nay chăng? Phái hiện sinh có cái nhìn đúng hơn khi quả quyết rằng mọi khoắc khoải đều phát sinh trong lòng người, vì con người biết rằng mình phải chết, vì con người bị xâu xé bởi khát vọng muốn sống khi thấy chắc sự chết sẽ đến.

E. Một vài sự kiện
1. Những sự kiện đã chứng minh một cách rõ ràng rằng phân tích xã hội học của Marx về tôn giáo có phần kém xác thực. Marx tuyên bố rằng tôn giáo là kết quả của sự vong thân, của áp bức kinh tế, trong một tình trạng “vô sản”. Nhưng De Lubac nhận xét rằng: “Thực tế cho thấy người dân càng trở nên vô sản thì họ càng đánh mất cảm thức tôn giáo. Vong thân là đặc tính tiêu biểu của thân phận vô sản, sự vong thân xã hội ngày càng gia tăng không thể đem lại cho con người hứng khởi tôn giáo như một bù trừ thần bí nào đó, trái lại nó có khuynh hướng bóp nghẹt thiện cảm đối với tôn giáo. Sự vong thân này đã làm cho xã hội mà nó phi nhân hóa “khước từ Thượng Đế”[6]. Đó là thảm kịch vô thần trong giới thợ thuyền Âu châu, trong những chế độ đàn áp của chủ nghĩa tư bản chưa được cải tiến. Các Đức Giáo Hoàng gần đây đã nhấn mạnh rằng tôn giáo và luân lý không thể có được khi những điều kiện sinh sống không cho phép con người sống với nhân phẩm tối thiểu.

2. Trong những nước theo chủ thuyết của Marx, ai cũng biết là chính quyền đã phải nhúng tay vào bao cuộc bách hại để diệt trừ tôn giáo. Thế nhưng chính Marx đã lên án việc sử dụng bạo lực. Ông cho rằng tôn giáo sẽ tự hủy một khi đã thay đổi được những điều kiện xã hội. Hiện thời,những phong trào tôn giáo không ngừng sống dậy đã làm cho giới hữu trách trong chính quyền cộng sản lo âu rất nhiều. Đáng lý ra, nếu người cộng sản tin tưởng vào lời tiên đoán của Marx, thì họ phải dám liều để dân chúng được tự do…

3. Người ta có thể tin rằng những sự kiện kể trên một phần lớn tùy thuộc vào sự kiện sau đây: Marx đã đồng hóa niềm tin đích thực của tôn giáo với sự mê tín dị đoan. “Làm như là kinh nghiệm giải thoát của các tôn giáo Ấn Độ và sự tự do cả con cái Thiên Chúa mà thánh Phaolô đã nói đến, cũng giống như sự sợ hãi của dân mọi rợ đối với các ác thần! Như thế là coi thường các dữ kiện rất sơ đẳng của kinh nghiệm” (A. Dondeyne). Sự sai lầm của lối phân tích này đưa đến hậu quả là dùng võ lực để tiêu hủy một thực tại trường cửu giống như người ta tiêu diệt dị đoan bằng tiến bộ khoa học và thay đổi các điều kiện xã hội.

4. Nhưng còn có một điều kiện đáng lưu tâm hơn: đó là Do Thái giáo. Tôn giáo này hoàn toàn khác hẳn với kết quả phân tích của Marx. Đây, hãy nghe R. Coffy trình bày: “Nếu con người đã phát minh ra Thượng Đế, và đã phát minh theo hình ảnh của mình, nếu người ta thấy một tương quan giữa cơ cấu xã hội với ý tưởng về Thượng Đế mà xã hội ấy tạo ra, thì làm sao giải thích trường hợp của dân tộc Do Thái, một dân tộc rất quê kệch, không triết lý, một dân tộc với nền văn minh rất thô sơ, sánh với những nền văn minh của các dân tộc khác cùng thời ở chung quanh, lại có một ý niệm về Thượng Đế cao vời và tinh ròng nhất? Làm sao cắt nghĩa được sự kiện họ vẫn thờ độc thần mặc dù các dân tộc lân cận thờ đa thần và họ chịu ảnh hưởng của các dân tộc này? Trước tiên sống đời du mục, kế đó định cư, lưu đày bên Ai Cập, bên Babylon, lưu lạc 40 năm trong sa mạc, sống đưới chế độ quân chủ trong nhiều thế kỷ và sau cùng bị dân Rôma đô hộ, thế nhưng dân tộc Do Thái vẫn giữ vững một niềm tin vào cùng một Thượng Đế. Người ta không thể nói rằng Do Thái giáo là một phản ảnh thuần túy của đời sống xã hội. Dù với một nền văn hóa thua kém nếu so sánh với nền văn hóa Ai Cập, thế nhưng dân Do Thái đã có một ý niệm siêu việt nhất về Thượng Đế, và duy chỉ có dân này là đạt tới ý tưởng về sự tạo dựng vũ trụ. Sức mạnh nào đã tác động họ và đã giữ vững họ trong một tuyên xưng niềm tin vào một Thượng Đế Tạo Hóa, trong khi theo chiều hướng tự nhên, họ có thể tôn thờ ngẫu tượng như mọi dân tộc khác?

Phải chăng người ta có thể nói rằng dân Do Thái đã tạo nên thiên giới để trốn tránh cõi trần, để bù cho kiếp sống khốn cùng của họ và cho biết bao nhục mạ mà họ phải gánh chịu? Không thể được, bởi vì cho đến thế kỷ II trước Tây lịch, dân Do Thái chưa hề tin có sự trả công đời sau. Trong bao nhiêu thế kỷ dài đằng đẳng, họ tin vào một Thượng Đế duy nhất và là Đấng Tạo Hóa, và tin có âm phủ, một nơi mà những người chết sẽ đến, một nơi không có vui sướng, vì nó trống rỗng, “một chốn tối tăm và câm lặng, một ác thú ghê tởm và thèm khát” (Gelin). Chỉ cần đọc lại một vài thánh vịnh thì đủ biết dân Do Thái chẳng muốn sa vào âm phủ, và đủ biết họ cầu khẩn liên lỉ để sống lâu bao nhiêu có thể trên dương thế này. Như thế có thể nói đến sự vong thân không? Hoàn toàn không, và chủ thuyết của Marx không thể giải thích được trường hợp dân tộc Israel. Những người theo chủ thuyết của Marx đã nghiên cứu hết mọi tôn giáo, trừ ra Do Thái giáo?”.

IV. Trong chiều hướng đối thoại

Trong những năm gần đây, đã có nhiều cuộc gặp gỡ giữa người Kitô giáo và những người theo chủ thuyết của Marx (dĩ nhiên là trong những nước không theo chủ thuyết của Marx), để bàn cãi một cách thành thực và khách quan những quan điểm riêng biệt của mỗi bên. Sau đây là một số tài liệu tiêu biểu nhất:

KARL RAHNER, l’Avenir Chrétien de l’homme, bài thuyết trình trong buổi gặp gỡ giữa Kitô giáo và những người theo chủ thuyết của Marx tại Salzbourg, từ 29-4 đến 2-5-1965.
ROGGER GARAUDY, De l’anathème au dialogue. Un marxiste s’adresse au Concile, Paris 1965.
G. COTTIER, Chrétiens et marxistes; dialogue avec R. Garaudy, Paris 1967.
En collab., Dieu aujourd’hui, Recherches et Débats, Paris 1965; nhiều đề mục do những người theo chủ thuyết của Marx và Công Giáo trình bày, về những vấn đề mà ta đã nói tới.

* Trích từ cuốn Con người và vấn đề Thượng Đế của Lm. Louis Leahy, S.J, Phân khoa Thần học, Giáo hoàng Học viện thánh Piô X, Đà Lạt, Việt Nam 1974. Bản điện tử do Lam Hồng thực hiện.

[1] Karl Marx, Manuscrit économico – politique, Mol. VII, tr.38-41. Bản dịch đã sửa chữa theo Mega, I. bản dịch 3, tr.124-126.
[2] Karl Marx, Manuscrit économico – politique, Mol. VII, tr.38-41
[3] Karl Marx, Manuscrit économico-politique, tr. 38-41.
[4] Karl Marx, Manuscrit économico-politique, tr. 38-41.
[5] Karl Marx, Manuscrit économico – politique, tr.38-41
[6] H. DE BULAC, Sur les chemins de Dieu, xb lần III, 1956, tr 208-209.

Lời hứa

chuacuuthe - Nhà giáo dục Carmel Wynne nói: “Khi cha mẹ không chân thật với con cái hoặc thường xuyên không giữ lời hứa, điều đó có thể phá hủy niềm tin và gây rắc rối trong các mối quan hệ”. Dạy con cái chân thật và trung thực là một trong những nhiệm vụ khó nhất đối với các bậc cha mẹ ngày nay. Dù chúng ta chấp nhận điều đó hay không, chúng ta vẫn sống trong một xã hội mà việc nói dối được chấp nhận như một phần bình thường của cuộc sống hàng ngày. Người ta cho rằng ai cũng nói dối, vậy vấn đề là gì?

“Nói dối trắng” (nói dối vô hại) hầu như không được coi là nói dối. Nó được coi là giao tiếp không chân thật nhưng được coi là khí cụ hữu ích để thoát khỏi tình huống khó xử. Quan điểm phổ biến là “điều gây thiệt hại”. “Nói dối trắng” được dùng để làm ngơ cảm giác của ai đó hoặc tránh làm thất vọng một đứa trẻ, để ngăn chặn tình huống xảy ra, hoặc để bảo vệ một nhân viên có thể gặp rắc rối.

Dĩ nhiên, sự thật là hầu như mọi người đều nói dối, nhưng đa số các bậc cha mẹ không biết sự dối trá lan rộng trong gia đình mình tới mức nào. Ngày nay, tôi không có ý gây “sốc” mọi người hoặc làm mọi người cảm thấy mình đang bị phê phán. Tôi chỉ có ý thu hút mọi người chú ý đến vấn đề xảo quyệt tăng lên khiến trẻ em cảm thấy không an toàn, hủy hoại niềm tin và gây rắc rối trong các mối quan hệ. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết: “Lỗ nhỏ làm đắm thuyền”.

Lời hứa quan trọng

Tuy nhiên, nếu một đứa trẻ phải xử lý với người cha/mẹ luôn đổi ý, vấn đề có thể có hệ quả rất khác. Trường hợp Kim Yến là một ví dụ.

Kim Yến muốn mặc chiếc quần jean và áo sơ-mi trắng đi học vi tính. Nó xin mẹ chuẩn bị sẵn cho nó sau khi nó đi học ở trường về, nhưng khi nó về thì người mẹ nói không có thời gian ủi đồ cho nó nên bảo nó mặc đồ khác. Nó thất vọng và khóc, người mẹ la rầy nó: “Đừng ồn ào về chuyện nhỏ nhặt như vậy. Áo sọc kia cũng hợp với quần jean vậy!”. Niềm tin của Kim Yến đã giảm sút!

Phá vỡ niềm tin

Người cha sẽ đón con gái từ lớp tin học, và Kim Yến biết cha mình thường đến trễ, không bao giờ người cha đến đón con gái đúng giờ như đã hứa. Dễ hiểu lý do khiến Kim Yến có thói quen thay đổi giờ giấc, vì nó phải thay đổi để không phải chờ người cha đến đón, và tại sao người cha thất vọng khi ông đến trễ.

Dĩ nhiên, đó không phải lỗi của người cha, có thể do kẹt xe hoặc lý do khách quan nào đó! Giao thông ngày nay như mớ bòng bong, ùn tắc giao thông là chuyện thường xuyên, thậm chí có khi phải mắt hàng giờ để chỉ nhích được vài chục mét. Nghĩa là sau khi người cha đón Kim Yến, ông phải đi đường vòng để về nhà vì ông còn phải làm việc khác. Kim Yến buồn vì không xem được bộ phim tuổi học trò mà nó đang say mê theo dõi, nhưng nó phải nén nỗi thất vọng vì sợ cha mẹ thất vọng khi nó có động thái bực tức và họ cho đó là “chuyện nhỏ”.

Nói dối gây bất an

Theo một cách dối trá, việc chấp nhận thất hứa và “nói dối trắng” làm tổn hại niềm tin trong các mối quan hệ, đồng thời gây ra nhiều sự bất an và nỗi đau không đáng có. Hãy nhìn những người xung quanh và bắt đầu nhận thức về vô số cách mà xã hội chúng ta thấy để tích cực hành động đối với những gì chúng ta thấy và nghe – tạm gọi là động thái thính thị. Chúng ta quá quen với những người luôn cố gắng biện minh cho hành động sai trái của mình. Họ liệt kê đủ lý do để chúng ta tin họ nói thật, họ không hề dối trá hoặc vô trách nhiệm, thực ra họ đang loại bỏ các hệ quả của sự thật. Chúng ta vẫn thường nói: “Một sự bất tín, vạn sự không tin”, lẽ nào không thực hành?

Hình ảnh cũng có thể dối trá

Sợ trễ giờ nên người cha chạy nhanh, bất chấp tín hiệu giao thông. Điều đó cũng gây ấn tượng xấu ở trẻ, vì ngược với những điều nó được học ở trường. Trẻ rất chân thật vì còn trong trắng, môi trường xã hội khiến chúng dần dần biến đổi theo vô thức. Trăm nghe không bằng một thấy. Lời được nghe có thể dễ bị quên, nhưng hình ảnh hiển nhiên đập vào mắt thì khó quên. Hình ảnh thât đó tạo nên ảo giác về sự hoàn hảo, trẻ sẽ cho đó là ảo tưởng hoặc không tưởng. Rất nguy hiểm!

Trong thế giới thực tế, không có con người hoàn hảo – vì “nhân vô thập toàn”, vậy cũng không có những cha mẹ hoàn hảo. Dĩ nhiên, con cái sẽ cảm thấy thất vọng khi chúng được dạy phải hy vọng thú vị không cụ thể hóa. Nguy hiểm là chúng sẽ cảm thấy không thể tin những lời hứa của cha mẹ nếu điều thất hứa thường xuyên xảy ra. Có đáng tiếc khi nhiều cha mẹ không biết điều này?

Người ta nói rằng máy quay hình không nói dối, nhưng đó là thời chưa có máy quay hình kỹ thuật số. Ngày nay người ta có thể dùng photoshop để “dựng” nhiều chuyện tày trời mà phải chuyên nghiệp lắm mới có thể phát hiện. Chỉ một cái nhấp chuột là người ta có thể “đổi trắng thay đen”. Điều đó tưởng như chỉ có trong phép lạ. Kỹ thuật nhiếp ảnh ngày nay có thể làm được “điều kỳ diệu”, có thể lấy “râu ông nọ cắm cằm bà kia” trong nháy mắt, biến Thị Nở thành Tây Thi.

Vĩ ngôn

Trong mỗi gia đình luôn có nhiều tình huống xảy ra, cha mẹ có thể giải thích giúp con cái hiểu đúng để chúng không ảnh hưởng xấu từ cách cư xử không kiên định của người lớn. Ngoài xã hội cũng luôn có những chuyện khiến trẻ có thể “nghi ngờ” – tận mắt chứng kiến chuyện thật, xem ti-vi, nghe radio, đọc báo, nghe kể lại,… Khi trẻ sống với người cha/me hay thay đổi, không giữ lời hứa (dù điều nhỏ), trẻ biết rằng nó không thể tin những gì cha mẹ nói. Cha Mẹ không dạy con cái nói dối nhưng chúng đã trải nghiệm và tự động tiêm nhiễm vào tiềm thức, và cứ thế chúng sẽ coi việc dối trá là bình thường, không còn cảm giác ray rứt về điều xấu. Con cái không tin cha mẹ thì sẽ cảm thấy bất an. Bây giờ chúng ta có thể cảm thông với những cha mẹ “quá tải” với công việc, họ cảm thấy khó làm những việc gia đình như nấu ăn, rửa chén, giặt giũ và ủi quần áo.

Nói chung, rất cần thiết phải giữ lời hứa. Cách giữ lời hứa tốt nhất là “không hứa”. Hứa thì phải làm, đừng hứa cho xong lần, hứa suông! Giữ lời hứa là tự trọng, không tự trọng thì không được người khác tôn trọng. Người không giữ lời hứa thì không đáng tin, dù đó là ai. Càng ít thất hứa càng tốt, không “hứa cuội” là tốt nhất, điều này sẽ ảnh hưởng tích cực tới mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái – và các mối quan hệ khác.

Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn” (Mt 18:6). Chắc hẳn chúng ta còn nhớ chuyện kể ở Mt 21:28-32, nói về hai người con. Người cha sai người con thứ nhất đi làm vườn nho, nó “vâng, dạ” rồi không đi; người cha lại sai người con thứ hai, nó cãi lệnh nhưng rồi nó hối hận và đi làm vườn nho. Chúng ta muốn là người con nào? Ai cũng khen người con thứ hai, nhưng liệu chúng ta có sống như người con này? Đó mới là vấn đề: Làm thật, không nói suông!

TRẦM THIÊN THU

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Nhân phẩm bị coi thường theo quan điểm chủ nghĩa duy vật vô thần

giáo huấn xã hội công giáo - Jennifer Fulwiler viết cho National Catholic Register về quan điểm cũ của bà là ủng hộ sự lựa chọn ăn chay, và làm thế nào bà vẫn tìm thấy quan điểm ấy phù hợp về mặt trí tuệ với một phần của thế giới quan duy vật vô thần.

Tôi đã từng là một người ăn kiêng có chọn lựa
Hiện nay, khi tôi rất không đồng ý với phần chọn lựa trong đó, tôi vẫn tìm kiếm vị trí ăn kiêng hoặc chọn lựa để thích nghi một cách khôn khéo – nếu nhụt chí – phần của quan điểm chủ nghĩa duy vật vô thần.
Theo cách mà tôi thường thấy nó, cả đời sống chỉ là những phản ứng hóa học, không có cách sống nào vốn mang tính xã hội hơn những thứ kế tiếp. Theo quan điểm này, lý do duy nhất mà con người sẽ được coi là giá trị hơn, nghĩa là một con sóc, vì con người có mức thông minh hơn và có lương tâm hơn con vật lông lá kia. “Sự thật” của vị trí này có vẻ hiển nhiên.


Chẳng hạn, đa số chúng ta không có vấn đề gì khi giết một sinh vật đơn giản như con muỗi, nhưng chúng ta sẽ bị phản đối khi giết một sinh vật thông minh hơn như một con chó. Mức thông minh tăng thì giá trị cũng tăng.
Tôi bắt đầu nghiên cứu các điều kiện của những lò sát sinh hiện đại, và phải quan ngại vì những gì mình phát hiện. Tôi quyết định chấp nhận chế độ ăn kiêng nhất. Có vài ngoại trừ mà tôi dựa vào mức nhận thức thấp của các động vật: Tôi ăn tôm và các loài giáp xác (cua, ốc, sò, nghêu,…) như nguồn cung cấp protein, biện hộ cách chọn lựa này vì cho rằng não của chúng không phức tạp như những động vật có vú và chim chóc.
Tôi có ý tốt, và quan điểm của tôi thích nghi theo nội tâm. Nhưng hàm ý đối với đời sống con người là nhụt chí.
Theo ý kiến tôi về sự xứng đáng của cuộc sống, người lớn ở bên phải; các bào thai ở bên trái. Người chưa sinh ở đâu đó như con tôm và con sâu theo cách nói về giá trị, vì chúng không thể phô bày nét thông minh nào. Và như vậy có vẻ bất công khi yêu cầu phụ nữ lật ngược đời sống mình xuống vì sinh vật có tất cả giá trị của loài giáp xác.
Mặc dù phải mất nhiều năm tôi mới hiểu rằng sự hiểu biết toàn bộ này về đời sống con người được phát hiện nhờ sự giả dối, thi thoảng tôi thoáng nhìn các ngụ ý ớn lạnh của quan niệm này.
Chẳng hạn, khi học đại học, tôi nghe một giáo sư nói rằng giết một trẻ sơ sinh thì đạo đức hơn là giết một con heo, vì heo thông minh hơn và biết môi trường xung quanh (!). Và tôi đã phỉ báng về sự ngu xuẩn của một khái niệm như vậy. Nhưng khi tôi cố gắng tranh luận phản đối điều đó, tôi nhận ra rằng ông ta thực sự dùng cách nhìn của tôi để biện hộ vị trí của ông ta.
Khi tôi bắt đầu nghiên cứu Công giáo, một trong nhiều thứ lập tức vang dội là thật, đó là giáo huấn của Giáo hội về nhân phẩm của con người. Đó là mỗi con người đều có một nhân vị – một nhân vị chỉ hiện hữu bằng nhân đức của một con người, bất kể vóc dáng to hay nhỏ, mức độ thông minh, mức độ lương tâm, hoặc bất kỳ đặc điểm nổi bật nào khác – như một nối kết với sự thật đã được “viết” lên trái tim.
Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ UCANews.com)

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Linh mục và Chính trị



Giáo huấn xã hội công giáo - 1. Ngày nay hơn bao giờ hết, con người bị vấn vương vào kinh tế và chính trị. Hai thứ này liên quan đến quyền lợi quốc gia, cá nhân và gia đình. Đó thường là mối bận tâm của nhiều người trong các cuộc đầu phiếu để chọn người vào các cơ quan công quyền của Nhà Nước, khi ứng cử, tranh cử và bầu cử. Nhưng thật là tai hại, nếu nghĩ rằng chính trị chỉ liên hệ đến hoàn cảnh kinh tế mà không liên hệ đến những gì khác nữa. Thật vậy, những dự định lớn lao nhằm phục vụ con người và công ích thường tùy thuộc vào kinh tế, nhưng không phải vì vậy mà được bỏ qua không nghĩ đến các vấn đề liên hệ đến quyền sở hữu, việc sử dụng, lưu hành và phân phối các của cải vật chất.

2. Đó là những vấn đề bao hàm chiều kích đạo đức mà các linh mục phải lưu tâm để phục vụ con ngưòi và xã hội, như nhiệm vụ Chúa Giê-su đã trao phó cho các vị. Chúa Giê-su đã đề ra một giáo thuyết và ban truyền những huấn lệnh soi sáng đời sống con người và xã hội. Đặc biệt Người đã rao truyền tình tương thân tương ái. Lệnh truyền này bao hàm sự kính trọng con ngưòi và quyền lợi của mỗi người, đề cao các luật lệ về công bình xã hội, nhìn nhận tất cả những gì thuộc về con người và phân chia đồng đều của cải vật chất cho các cá nhân, gia đình cũng như đoàn thể. Hơn nữa, Người còn nhấn mạnh đến tính phổ quát của tình thương vượt lên trên những sự khác biệt về chủng tộc hay quốc gia. Khi tự nhận và xưng mình là “Con Người”, Chúa Giê-su đã muốn dùng danh hiệu “mê-si-a” để xác quyết rằng công trình của Người là dành cho mọi người không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa. Khi loan báo Tin mừng bình an cho các môn đệ và mọi người, Chúa Giê-su đã đặt nền móng dựa trên các huấn thị về tình huynh đệ, nghĩa liên đới, sự tương thân tương ái trong một khung cảnh phổ quát. Đã rõ là đối với Người, đó là mục đích và nguyên tắc để tạo ra một căn bản chính trị chân chính.
3. Dù vậy, đã không bao giờ Người muốn dấn thân vào một phong trào chính trị. Người đã luôn tránh mọi cuộc vận động nhằm đưa Người vào những công việc và vấn đề trần thế (Ga 6,15) Vương quốc Người thành lập không thuộc trần gian này (Ga 18,36). Những ai muốn Người bày tỏ lập trường đối với chính quyền, Người nói rõ : “Trả cho Xê-da cái thuộc về Xê-da, trả cho Thiên Chúa cái thuộc về Thiên Chúa.” (Mt 22,21) Người đã không bao giờ hứa với dân Do thái, đồng bào của Người, là sẽ giải phóng họ cho khỏi ách thống trị của người Rô-ma, như người ta vẫn đợi chờ nơi một Đấng Mê-si-a như Người. Chúa Giê-su đã xác quyết Người đến như Con Thiên Chúa để hiến cho loài người đang bị tội lỗi thống trị sự giải phóng về đường thiêng liêng và ơn gọi vào Nước Thiên Chúa. (Ga 8,34-36). Người đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Ga 20,28). Người dạy rằng các môn đệ, đặc biệt là các Tông đồ không được nghĩ đến quyền hành trần thế và sự thống trị các dân như quan quyền thế gian, mà phải là những người phục vụ khiêm tốn (Mt 20,20-28), như Chúa và Thầy mình đã làm gương (Ga 13,13-14).
4. Tất nhiên, sự giải phóng về đường thiêng liêng do Chúa Giê-su mang lại phải có những hiệu quả rõ rệt trong mọi góc cạnh của đời sống cá nhân cũng như tập thể, mở ra một cách lượng giá mới về con người xét như một nhân vị, cũng như các tương quan giữa con người với nhau theo đức công bình.
Tình trạng nghèo khó và quyền tự do chính đáng của con người là những địa hạt rất thích hợp cho đời sống linh mục, vì linh mục là phát ngôn nhân của Chúa để công bố Tin Mừng cứu độ loài người và là thừa tác viên để áp dụng hậu quả vào mọi địa hạt và trên mọi cấp bậc. Thượng Hôi đồng Giám mục năm 1971 viết : “Các linh mục cũng như toàn thể Hội thánh và cùng với Hội thánh, buộc phải chọn một cách hành động rõ ràng với tất cả khả năng của mình, khi quyền lợi căn bản của con người cần được bảo vệ, khi việc phát triển toàn diện con người cần được cổ võ, khi công lý và hòa bình cần phải thực thi bằng những phương pháp thích hợp. Tất cả những điều này đều có giá trị không nguyên trên bình diện cá nhân mà còn trên bình diện xã hội. Vì vậy, các linh mục phải giúp giáo dân tự luyện cho mình một lương tâm ngay thẳng.” (Ench.Vat.IV 1194) Điều này được nói rõ hơn trong sách Giáo lý công giáo : “Trực tiếp can thiệp vào chính trị và tổ chức đời sống xã hội không phải là việc của các mục tử trong Hội thánh. Nhiệm vụ này thuộc ơn gọi của giáo dân hành động theo sáng kiến riêng của họ với đồng bào mình.” (GLCG số 2442)
5. Người Ki-tô hữu được kêu gọi dấn thân trực tiếp vào các hoạt động này để góp phần làm cho các nguyên tắc của Tin Mừng luôn nổi bật trong xã hội. Linh mục trực tiếp dấn thân theo Chúa Ki-tô vào việc phát triển Nước Thiên Chúa. Cũng như Chúa Ki-tô, linh mục phải từ chối dấn thân vào những hình thức hoạt động chính trị, nhất là chính trị đảng phái, để bao giờ cũng là người của mọi người, là hiện thân của tình huynh đệ và phụ tử thiêng liêng.
Đương nhiên, có thể có những trường hợp đặc biệt xem ra nên và cần làm để giúp đỡ và thay thế, khi các tổ chức dân sự lỏng lẻo hay lệch lạc. Các tổ chức của nhà đạo thường đã thi hành nhiệm vụ này trong lịch sử với tất cả những cái lợi và bất lợi, cũng như những khó khăn từ đó mà ra. May mắn thay, thời buổi bây giờ đã đổi khác và chính trị cũng phát triển theo đường hướng khác. Xã hội dân sự dần dà có những tổ chức và phương tiện để hoàn thành tốt trách nhiệm của mình (GS 40 và 76).
Hội thánh lo hoàn thành nhiệm vụ của mình là loan báo Tin Mừng, tuy cũng có khi hợp tác để lo thực hiện công ích, nhưng không ước mơ và chấp nhận đảm trách những vai trò có tính chính trị.
Thượng Hội đồng Giám mục năm 1971 đã ra chỉ thị cho các linh mục trong vấn đề chính trị. Linh mục có quyền đưa ra ý kiến về chính trị và bỏ phiếu theo lương tâm mình, nhưng phải đứng xa không được tham gia hay dấn thân làm chính trị (Ench.Vat IV 1195). Chính trị đảng phái không được đồng hóa với chân lý Tin Mừng. Linh mục phải lưu tâm đến tính tương đối của chính trị ngay cả trong trường hợp có nhiều tín hữu gia nhập đảng phái làm chính trị theo các định hướng của Tin Mừng. Cũng phải nói thêm là quyền của linh mục được bày tỏ các lựa chọn riêng cũng bị giới hạn vì các đòi hỏi do thừa tác vụ của mình. Sự giới hạn này cũng có thể là một chiều kích của đức nghèo khó phải thực hành theo gương Chúa Ki-tô.
6. Thực thế, đôi khi linh mục phải giữ không thi hành quyền của mình để có thể là dấu hiệu về sự hợp nhất và do đấy có thể loan báo Tin Mừng cách hữu ích hơn. Thượng Hội đồng năm 1971 nhắc nhở các linh mục nên tránh dấn thân vào các hoạt động chính trị như nhận trách nhiệm điều khiển với tư cách là chính khách, trừ khi vì ích chung được Đấng Bản quyền và Hội đồng Linh mục sở tại đồng ý và cho phép (Ench.Vat IV 1197)
7. Đối với các linh mục, sự tận tâm nhiệt thành muốn góp phần vào việc lành mạnh hóa đời sống chính trị như loại bỏ bất công, chống lại việc khai thác sức lao động của phụ nữ và trẻ em cũng như bênh vực kẻ bị đàn áp dưới mọi hình thức là điều tốt, nhưng Hội thánh nhắc lại rằng các linh mục rất có thể bị lôi cuốn vào những hoạt động đảng phái, nên phải hết sức thận trọng và canh chừng.
Kết luận
Linh mục không được làm chính trị nhưng có quyền và bổn phận phải lên tiếng bênh vực  lẽ phải và sự công chính, vì lợi ích của những người không có tiếng nói hay tiếng nói không được đếm xỉa. Làm như thế, linh mục không làm chính trị, nhưng là thực thi bổn phận chính trị đối với con người, hiểu theo nghĩa là góp phần vào việc lo cho “công thiện công hảo”.
L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p

Phê bình thuyết vô thần của Karl Marx* (phần I)


lamhong - 1. FEUERBACH (1804-1872)
“Đối với Đức Quốc, việc phê bình tôn giáo qua những điểm căn bản được coi như đã hoàn tất”. Khi viết như thế nơi một trong những tác phẩm đầu tay, Marx muốn ám chỉ Feuerbach và tác phẩm nổi tiếng: “L’essence du chritianisme” (1841).

Chúng ta tạm bỏ qua nhiều điểm trong tác phẩm trên của Feuerbach, mà chỉ nêu lên những đường hướng chính trong việc phê bình tôn giáo của ông.
A. LÝ THUYẾT CỦA FEUERBACH
1. Tôn giáo phát sinh do khát vọng đạt tới một lý tưởng. Con người mang trong mình, dưới hình thức một khát vọng, một lý tưởng về sự hoàn hảo và hạnh phúc: Khôn ngoan, tình yêu vô vị lợi, ý thức công bằng. Con người nhận biết tính cách lý tưởng của những giá trị này khi họ so sánh một cách trực giác và lờ mờ tính chất vô cùng với những giới hạn của con người. “Con người cá nhân rất có thể và phải cảm thấy cùng nhận ra rằng mình hữu hạn, nhưng biết được như vậy là nhờ họcảm thấy, trực giác hay quan niệm được sự hoàn hảo và tích cách vô cùng của chủng loại mình”.
2. Tôn giáo chỉ là thực tại hóa lý tưởng ấy: “ảo ảnh tôn giáo hệ tại ở chỗ ngoại xuất cái đối tượng nội tại trong tư tưởng chúng ta, nhằm thực tại hóa và nhân cách hóa đối tượng đó”. Các ưu phẩmthần linh chính là sự thực tại hóa các thuộc tính nhân loại không phải của mỗi cá thể nhưng của toàn thể chủng loại: Thượng Đế không gì khác hơn là lý trí xét dưới đặc tính tuyệt đối của nó.
 “Khôn ngoan, ý chí, công bằng, tình yêu, và con biết bao nhiêu thuộc tính vô cùng nữa, tất cả cấu tạo nên hữu thể riêng biệt của con người… và tự nhiên con người phóng ngoại chúng, khách thể hóa chúng thành một chủ thể huyền hoặc, một sản phẩm tưởng tưởng và họ gọi chủ thể ấy là Thượng Đế” (de Lubac). Do đó, cái khả niệm tối thượng trở thành “hiện thể thực sự nằm ngoài tư tưởng của ta, ở ngoài ta, nó tự thân và quy ngã”. “Thần linh chính là những ước muốn của con người đã được thực hiện”.
3. Thái độ của con người đưa đến những hậu quả thật tai hại, được cụ thể hóa dưới hai hình thức đặc biệt:
* Một sự trống rỗng của con người: Khi hành động như thế, con người tự “vong thân”. Lịch sử đã minh chứng cho thấy con người đã chối bỏ cái bản ngã tốt nhất của mình, đã tự “phi nhân hóa’. Con người trở nên nghèo đi khi làm giàu Thượng Đế. “Con người xác quyết nơi Thượng Đế điều mà họ chối bỏ nơi chính mình”. Khi gán cho một Hữu Thể ảo tưởng tất cả những khát vọng của mình, con người tôn giáo tự lột bỏ và đánh mất phần tốt nhất của mình cho một ảo tưởng, biến bản thể của họ càng trở nên nghèo nàn”.
* Hy vọng cứu rỗi có tích cách tôn giáo: Trở nên nghèo nàn trước một Thượng Đế giàu có bằng chính những thuộc tính của mình, con người mong đợi Thượng Đế ban hạnh phúc và thực hiện toàn vẹn những mơ ước của mình trong một thế giới bên kia đã được tạo ra vì mục đích đó.
4. Tất nhiên phải kết luận: Con người, để thực sự là người, phải phá hủy sự vong thân này, phải “giảm trừ sự nhị trùng hóa này”. “Tôi chối bỏ Thượng Đế, điều đó có nghĩa là tôi chối bỏ sự chối bỏ con người. Thay vào vị thế ảo tưởng, huyền hoặc, thiên giới của con người mà hậu quả tất yếu là sự chối bỏ con người trong đời sống thực tế, tôi lập lại vị thế khả giác, thực sự của con người. Vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng Đế đối với tôi chính là vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của con người”[1]
B. Phê bình chủ thuyết của Feuerbach
* Mặc dù dẫn chứng rất nhiều tài liệu, Feuerbach quả quyết nhiều mà không bao giờ chứng minhthực sự. “Ông dẫn chứng tài liệu không nhằm để làm nền tảng, nhưng chỉ dùng để minh giải những luận đề đã có trước. Ông đã phán quyết trước khi cầm bút: Tôn giáo chỉ có thể là một ảo tưởng”[2]
* Ông đã sử dụng khái niệm tôn giáo quá hàm hồ. Mọi tôn giáo đều được ông xếp chung vào phạm trù hữu thần. Ông không cố gắng để phân biệt Thượng Đế của đức tin Kitô giáo với các thần linh của những tôn giáo sơ khai. Bởi đó ông không tôn trọng thực tại lịch sử của sự kiện tôn giáo.
* Ông chủ trương trở về với con người cụ thể. Nhưng thực tế, ông chỉ nói về người như một chủng loại. Đối tượng đích thực của tôn giáo, theo ông, không phải là Thượng Đế nhưng là Yếu Tính lý tưởng của con người. Về điều đó, sau này Engels đã nói: “Việc tôn thờ con người trừu tượng là tâm điểm của tôn giáo mới theo Feuerbach”.
* Sai lầm trong nguyên tắc tri thức luận. Ông đưa ra một nguyên lý tổng quát: đối duy nhất của tri thức con người chính là bản tính con người và các thuộc tính của nó.
* Nếu như Feuerbach chủ trương, con người xét như một chủng loại có các thuộc tính vô cùng, thì tại sao con người lại gán chúng cho một hữu thể ở ngoài chủng loại người để biến đổi chúng thành một chủ thể gọi là Thượng Đế? Và nếu sự vong thân tôn giáo gắn liền với yếu tính con người, làm sao Feuerbach có thể thoát khỏi được?
* Những khả năng ấy (tình yêu, tri thức…) con người không làm chủ chúng được, bởi vì không có chúng con người không là gì hết… Chúng là những yếu tố căn bản của con người và con người không thể chiếm hữu cũng không thể tạo ra chúng được… Chúng là những sức mạnh tuyệt đối và thần linh”. Nhưng như vậy thì những sức mạnh đó từ đâu đến?
* Lẫn lộn giữa khái niệm nguyên nhân tính nơi Thượng Đế với nguyên nhân tính của các hữu thể hữu hạn. Theo ông, sự quan phòng của Thượng Đế hủy diệt sáng kiến và tự do của con người. Feuerbach không biết đến nguyên nhân sáng tạo và đại lượng đã ban cho con người chính sự tự do sáng tạo của mình.
II. KARL MARX (1818-1883)
A. Marx đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Feuerbach. Ông đã phê bình Feuerbach cách tỉ mỉ. Dù sao ông cũng đã chấp nhận một vài điểm và cũng phủ nhận một số ý tưởng của Feuerbach.
Marx ca ngợi Feuerbach về những điểm sau đây:
* Chủ thuyết duy vật chống lại chủ thuyết duy tâm của Hegel.* Trở về những vấn đề đích thực, đó là những vấn đề con người.* Giải thích tôn giáo bằng vong thân và ảo tưởng.
Nhưng Marx lại tố cáo Feuerbach về những sai lầm sau đây:
* Thay thế con người cụ thể bằng một thể thức tưởng tượng, trừu tượng: đó là chủng loại người.* Bỏ qua tính cách lịch sử và xã hội của con người, cũng như vai trò ưu tiên của những cơ cấu kinh tế trong nền văn minh nhân loại.* Không chú tâm đến biện chứng pháp ảnh hưởng đến vật chất và lịch sử.* Không chú ý đến sự giải phóng con người về phương diện pháp lý, luân lý và chính trị; không biết đến vai trò thiết yếu của cách mạng.* Không am tường nguyên nhân đích thực gây nên cảnh huống khốn cùng của nhân loại.
Do đó Feuerbach không nhận ra những phương thế thực tiễn để giải thoát con người khỏi cảnh khốn cùng và làm cho con người được hạnh phúc.
B. Phê bình tôn giáo và thượng đế của Marx
1. Khác với Feuerbach, cả Marx lẫn Engels đều không muốn phê bình tôn giáo như một kẻ thông thạo vấn đề. Đối với duy vật lịch sử, tôn giáo chỉ diễn tả trạng huống căn bản, trong đó con người là nạn nhân một nền kinh tế vô nhân đạo và bị vong thân về phương diện xã hội. Thế nên tôn giáo phải biến mất khi trạng huống nói trên chấm dứt.
Đặc biệt Marx không hề bàn cãi suông những vấn đề tôn giáo. Ngoại trừ vài hàng ở cuối luận án tiến sĩ của ông[3]. Người ta sẽ  không bao giờ thấy Marx bài bác những lý chứng về sự hiện hữu của thượng đế. Dường như đối với ông, vấn đề này được xác quyết tiên thiên rồi. Phê bình của Marx về ý tưởng Thượng Đế và về tôn giáo thực ra nhằm vạch trần những điệu kiện xuất hiện cụ thể và những hậu quả tai hại của chúng. Tôn giáo, ý tưởng Thượng Đế ở đây chỉ được xem như những hiện tượng, những sự kiện cần xác định nguyên nhân và hậu quả. Marx không hề khảo sát và bàn cãi về giá trị chân lý của tôn giáo. Như thế chúng ta vẫn còn ở ngoài vấn đề.
2. Chủ thuyết của Marx là một chủ thuyết duy vật biện chứng và lịch sử.
* Duy vật biện chứng: Vật chất không phải  là một thực thể tự nó bất động, và một lúc nào đó nó sẽ chuyển động một cách huyền bí như phái Descartes chủ trương. Vật chất vốn biến dịch dưới ảnh hưởng của trương lực nội tại không ngừng nhảy vọt từ một trạng thái này đến trạng thái khác đối nghịch, để rồi đi đến một tổng hợp nối kết chúng lại trên một bình diện cao hơn. Rồi đến lượt, tổng hợp này lại phân tán để đi đến một tổng hợp khác cao hơn nữa và cứ như thế mãi mãi mà không bao giờ đạt tới quân bình tối hậu. Như vậy có sự tiến bộ về phẩm tính, có trổi vượt thật sự. Mọi sự không giản lược vào những thay đổi thuần chất lượng, hay đúng hơn, chính những thay đổi chất lượng này khi đạt tới một trình độ nào đó thì phát sinh (theo biện chứng pháp trung thực của Hegel) những thay đổi về phẩm tính. Vậy sự sống là cái gì còn cao hơn một chuỗi những phản ứng thuần vật lý học, và ý thức cao hơn những phản ứng thuần sinh vật học. Những trạng thái thượng đẳng và đặc biệt những trạng thái gắn liền với sự xuất hiện của ý thức, tạo thành thượng tầng cơ sở này. Những thượng tầng cơ sở này – ở một mức độ nào đó mà những người theo chủ nghĩa Marx chưa định rõ -, đều tự trị đối với những hạ tầng cơ sở, và có thể tác động trên hạ tầng cơ sở. Tuy nhiên chúng không thoát khỏi những ảnh hưởng có tính cách tất định của hạ tầng cơ sở. Mặc dù có sự bất ổn giữa hai trạng thái, nhưng sau cùng những điều kiện vật chất luôn nắm phần ưu thắng[4].
*Duy vật lịch sử: Cũng như mọi biến đổi của các thượng tầng cơ sở lịch sử bị chi phối và quy định bởi những hiện tượng căn bản, nghĩa là “những hiện tượng trực tiếp gắn liền với những hoạt động vật chất nhất, đó là những hiện tượng kinh tế. Nói rõ hơn, đối với chủ thuyết của Marx, con người chính là một hữu thể tự tạo lấy mình bằng cách sản xuất những phương thế sinh tồn. Chính những phương pháp, những dụng cụ và những tương quan sản xuất khác nhau cắt nghĩa tận nguồn những thay đổi xã hội, chính trị và văn hoá. “Máy xay bằng tay tạo nên xã hội lãnh chúa, máy xay hơi nước tạo nên xã hội với kỹ nghệ tư bản”[5].
Những hiện tượng tôn giáo cũng chỉ là phản ảnh các biến đổi kinh tế. Đạo Công Giáo gắn liền với cơ cấu của thời phong kiến, cũng như đạo Tin Lành gắn liền với những cơ cấu của kỷ nguyên tư bản. Sự xuất hiện độc thần giáo là kết quả của toàn bộ những yếu tố sản xuất. Mặc dù có nhiều xáo trộn, nhưng ít ra ta thấy thái độ tôn giáo nói chung, ý tưởng về Thượng Đế vẫn tồn tại đến nay. Sự tồn tại này chỉ nói lên sự tồn tại của một tình trạng kinh tế căn bản mà trong đó con người không thể là người hoàn toàn, trong đó con người bị vong thân.
Đối với chủ thuyết của Marx, đó là nguồn gốc đích thực của ý tưởng Thượng Đế. Sở dĩ con người cảm thấy cần phải giả thiết một hữu thể để mình lệ thuộc và được giúp đỡ trong lúc thiếu thốn, chính là vì con người không tìm thấy nơi mình cái thực thể toàn vẹn của mình, cái lý tính viên mãn của mình. Họ ý thức rằng mình không tự thỏa mãn, và để ra ngoài một phần bản thể của mình. Thế mà chủ thuyết của Marx muốn giải thích ý thức đó bằng những yếu tố kinh tế. Cái phi lý của cuộc hiện sinh, cái vô lý của kiếp sống cụ thể, việc sản xuất bừa bãi, việc phân công cho dù là cần thiết, tất cả đã sinh ra sự chia rẽ và đối nghịch giữa các giai cấp: Kẻ thành thị người thôn quê, kẻ cai trị người bị trị, giới trí thức và hạng thợ thuyền, trưởng giả và vô sản. Mỗi lớp như thế đánh mất tất cả sự phong phú của con người mà giai cấp đối lập đang đặc hưởng. Như vậy, con người cảm thấy mình bị tách chia, bị phân xé. Bản tính con người phần nào trở nên xa lạ với chính mình. Nó bị vong thân. Con người không cảm thấy xã hội như một thực thể phần nào nội tại với chính mình, như điều kiện tối thượng giúp mình thăng tiến đầy đủ, và cũng không thấy rằng quyền lợi của xã hội cũng là của mình. Xã hội đối với con người như là một sức mạnh ngoại tại, xa lạ với cuộc sống cụ thể của họ. Xã hội đó chính là quốc gia.
Ý tưởng Thượng Đế được coi như sự phóng ngoại huyền hoặc của việc vong thân căn bản này. Nó nói lên cảnh khốn cùng của giai cấp bị trị, đồng thời cũng là khí cụ để giai cấp thống trị kéo dài quyền thống trị của mình.
“Tôn giáo là ý thức và cảm thức con người  có về chính mình khi họ chưa đạt tới chính mình hoặc đã đánh mất chính mình. Nhưng  con người lại không phải là một hữu thể trừu tượng đứng ngoài thế giới. Con người chính là thế giới của con người, là quốc gia, là xã hội. Quốc gia ấy, xã hội ấy sản xuất ra tôn giáo và tôn giáo là một tình trạng ý thức về thế giới phi lý, bởi vì quốc gia, xã hội này là một thế giới phi lý. Tôn giáo là lý thuyết tổng quát về thế giới ấy…, là sự thể hiện huyền hoặc của con người, bởi vì con người không sở hữu một thực tại đích thực… Sự khốn cùng của tôn giáo một đàng biểu lộ sự khốn cùng trong thực tế, đàng khác lại là phản kháng chống lại chính sự khốn cùng trong thực tế ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của tạo vật bị áp chế, là linh hồn của một thế giới không hồn, cũng như là tinh thần của một nền văn minh mà tinh thần đã bị trục xuất. Tôn giáo là thuốc phiện mê dân”[6].
Tiếp đó, Marx và Angels xác định rõ ràng  tư tưởng của mình về nguồn gốc lịch sử tôn giáo. Đối với những xã hội sơ khai, kém mở mang về kinh tế, nếu đem gắn những yếu tố cố định về kinh tế cho những niềm tin tưởng huyền hoặc nơi những tâm thức ngu dốt, thì thật là buồn cười. Ta chỉ có thể nói rằng sự kém mở mang tri thức làm nảy sinh những điều huyền hoặc trên, chính là con đẻ của một nền kinh tế kém mở mang[7]. Như vậy, “tôn giáo phát sinh vào một thời kỳ rất xa xưa, thời của những biểu tượng sơ khai lệch lạc của con người, liên quan đến chính bản tính con người và thiên nhiên bao chung quanh”[8]. Như thế những người theo chủ thuyết của Marx đã không đưa ra lý thuyết nào đặc biệt về nguồn gốc lịch sử tôn giáo: Marx và Angels chỉ dựa vào những lối giải thích thông thường thời ấy (thuyết duy hồn, duy nhiên). Trái lại, đối với những xã hội lich sử có nền kinh tế mở mang và phân chia giai cấp, thì những yếu tố kinh tế đã có ảnh hưởng thực sự. Trong những xã hội này, giai cấp thống trị cố bảo tồn, phát triển và sử dụng những ý thức hệ phi lý của thời kỳ sơ khai để thụ lợi.
3. Giải thích nguồn gốc tôn giáo như thế cũng chính là kết án tôn giáo. Tôn giáo không phải chỉ là ảo tưởng mà còn tai hại nữa. Nó tước đoạt nhân tính và phẩm tính của con người để mặc cho một hữu thể tưởng tưởng[9]. Nó hạ thấp con người khi tạo cho con người một ý thức về tội lỗi, khi dạy con người phải khiêm tốn, khi làm cho con người cảm thấy mình đáng khinh bỉ, coi những khuynh hướng tự nhiên và vô tội nhất nơi mình như là xấu xa ác hại[10]. Nhất là khi cung cấp cho con người một sự an ủi giả dối và ru ngủ họ bằng một niềm hy vọng hảo huyền, tôn giáo làm cho con người không còn cố gắng và chiến đấu cho những lợi ích thực tế, cho sự giải phóng thực sự. Tôn giáo “huyền hoặc hóa” con người.
Chính vì thế “hạnh phúc của con người đòi phải hủy diệt tôn giáo, một thứ hạnh phúc giả tạo của quần chúng. Phải chối bỏ những ảo tưởng về tình trạng của chính mình, chính là phải chối bỏ một tình trạng đang cần đến ảo tưởng. Như vậy, phê bình tôn giáo cũng là phê bình cái thung lũng nước mắt này bởi vì hình ảnh hào nhoáng của nó là tôn giáo”[11].
4. Tuy nhiên, mặc dù sự phê phán tôn giáo là điều kiện tiên quyết của mọi phê phán khác[12], mặc dù phải chiến đấu chống lại tôn giáo, nhưng không cần phải dùng đến những biện pháp mạnh. Vì tôn giáo chỉ là phản ảnh của một thế giới, trong đó con người chưa hoàn toàn là người, nên nó sẽ tự động biến mất khi thế giới này trở nên nhân bản hơn. Sự vong thân đã lên đến tột độ trong hàng ngũ vô sản, hậu quả của hệ thống tư bản, nhưng chính từ hàng ngũ này sẽ nẩy sinh ra con người mới. Kết tinh mọi mình thức vong thân của con người trong chính sự vong thân của mình, giới vô sản sẽ chặn đứng mọi hình thức vong thân khi tự giải phóng chính mình. Mâu thuẫn từ bên trong (chênh lệch giữa sự phát triển các khả năng sản xuất và quan niệm cũ về sở hữu) chủ nghĩa tư bản sẽ tự động sụp đổ trước kẻ thù chính nó tạo ra. Lúc đó sẽ xuất hiện một xã hội “vô giai cấp”, trong đó không còn những xung đột, và con người sẽ thực hiện được trọn vẹn nhân tính của mình. Hoàn toàn hòa giải với chính mình, hoàn toàn mãn nguyện với chính mình, con người sẽ không nghĩ đến việc tìm kiếm một nguồn an ủi ảo tưởng nữa.
“Trong tương lai, nhờ có mọi phương tiện sản xuất và sử dụng chúng một cách có phương pháp, xã hội sẽ tự giải phóng mình và giải phóng mọi phần tử khỏi vòng nô lệ hiện nay đang trói buộc mình bằng những phương tiện sản xuất mà chính xã hội đã sản xuất ra, nhưng lại bị chúng đối nghịch lại như một ngoại lực cao hơn. Con người sẽ không chỉ suy tư, mà còn cai trị nữa. Chỉ khi đó ngoại lực cuối cùng còn phản ảnh trong tôn giáo mới biến mất, đồng thời chính phản ảnh tôn giáo cũng biến mất, vì lý do giản dị là không còn đối tượng để phản ảnh nữa”[13].
5. Chủ thuyết của Marx là một nhân bản thuyết vô thần hoàn bị nhất.
Chưa bao giờ sự tự mãn của con người đã được xác quyết một cách sâu xa và khai triển một cách mạch lạc như vậy. Thượng Đế đã bị loại bỏ vì liên đới với một loại thân phận con người nào đó mà chủ thuyết của Marx không những muốn thấu hiểu mà còn loại trừ.
Dường như Marx nghĩ rằng sự cần thiết xác nhận Thượng Đế phải gắn liền với một hiện trạng căn bản hơn sự vong thân về mặt kinh tế: đó là hiện trạng của hữu thể hữu hạn và bất tất. Marx quan niệm như thế bởi vì thuyết nhân bản kiểu prométhée của ông không thể chấp nhận một giả thuyết cho rằng con người không phải là hữu thể tối thượng, không phải là vạn năng trong bản tính thực sự là người của họ.
“Sự phê bình tôn giáo đưa đến học thuyết chủ trương rằng con người là hữu thể tối thượng đối với con người, do đó nhất thiết phải lật đổ mọi tương quan xã hội, trong đó con người là một hữu thể bị hạ giá, ức chế, bỏ rơi, đáng khinh bỉ”[14]. 
(còn tiếp)

* Tiêu đề do Lam Hồng đặt. Trích từ cuốn Con người và vấn đề Thượng Đế của Lm. Louis Leahy, S.J, Phân khoa Thần học, Giáo hoàng Học viện thánh Piô X, Đà Lạt, Việt Nam 1974. Bản điện tử do Lam Hồng thực hiện.

[1]. x. JAMES COLLINS, God is Modern Philosophy, Chicago 1959: Feuerbach’s humanizing of hegelian absolute, tr 239-249.
[2]. x. H. GOLLWITZER, Athéisme marxite et foi chrétienne, Paris 1965, tr 78.
[3]. K. Marx, Différence de la philosophie de la nature chez Démocrite et chez Épicure, Tuyển Tập 3, trong Œuvres philosophiques, bản dịch MOLITOR, quyển I, Paris, tr. 80. Marx-Engels Gesanr-tausgbabe (Mega); Iste Abteil, bản dịch 1, tr. 80-81.
[4] x. Lettre à Heinz Starkenburg, 25-1-1894, trong MARX-ENGELS, Etudes philosophiques, Paris 1935, tr. 162…
[5] x. K.MARX, Misère de la philosophie, MEGA, I, bản dịch 6, tr. 179 
[6] K. Marx, Contribution à la critique de la philosophie du droit de Hegel, bd. Molitor I, tr. 83-84; bản dịch sửa chữa theo Mega, Marx-Engels Gesamtausgabe, I, bd I, tr. 607.
[7] x. ENGELS, Lettre à Conrad Schmidt, 27-10-1890, trong K. Marx. F. Etudes philosophiques, Paris 1935, tr 157.
[8] X. ENGELS, Ludwig Feuerbach, tr. 63.
[9] x. La Sainte Famille, ch VIII, 2 B, MOL. III, tr. 56-59; MEGA, I, Ed 3, tr. 350-351, nói về “Fleur de Marie”, nhân vật trongMystère de Paris, của EUGENE SUE.
[10] Sđd. tr. 61-62; MEGA, 352-353.
[11] X. Contribution à la critique de la philosophie du droit de Hegel, MOL, I, tr. 14. MEGA, I, tr. 607-608.
[12] Sđd, tr. 83; MEGA; tr. 607.
[13] x. ENGELS, Anti-Durhing, III, ch. 5; bản dịch BRACKE, III.
[14] x. La Sainte Famille.