Giáo Hạt Bột Đà

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

TRẠI PHONG QUỲNH LẬP:ĐIỂM ĐẾN CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG


09.10.2011
Caritas Vinh (07.10.2011) - Được thành lập từ năm 1957, trại phong Quỳnh Lập là mái ấm của những con người đang phải mang trên mình những vết đau của căn bệnh phong cùi, nhưng từ trong tâm hồn, họ luôn khao khát tình thương và khát vọng được sống hòa nhập với cộng đồng.
Trại phong có tên đầy đủ là Bệnh viện Phong - Da liễu  Trung ương Quỳnh Lập. Hiện tại đây có
75 cặp vợ chồng với 247 bệnh nhân và con em họ sống trong những ngôi nhà nhỏ. Phần lớn họ nhận tiền trợ cấp, tự chăm sóc và nấu nướng. Hằng ngày, họ cũng trồng rau, nuôi bò, nuôi lợn để làm vốn, con cái cũng được cho đi học, có không ít các cháu ở trại phong này đã và đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc. Một số cặp vợ chồng vừa bị phong, lại mắc thêm các bệnh khác nên thuộc diện chăm sóc đặc biệt nhờ đội ngũ y tá, điều dưỡng viên.
Trở lại làng phong lần này, cùng với đoàn từ thiện của Hội bạn người cùi Việt Nam - Úc châu và các thành viên của Caritas Vinh do Cha Phêrô Nguyễn Văn Toàn - một linh mục người Úc gốc Việt dẫn đầu, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về sự khao khát tình thương của những bệnh nhân kém may mắn này.
Hội bạn người cùi Việt Nam - Úc châu đã hỗ trợ rất nhiều chương trình từ thiện cho các trại phong cùi ở Việt Nam. Bắt đầu hoạt động từ năm 1991 đến nay hội đã thực hiện các chương trình tại các trại phong Bến Sắn (Bình Dương), Bình Minh (Đồng Nai), Di Linh  (Lâm Đồng), Thanh Bình (Sài Gòn), v.v.. Năm nay, Cha Toàn, linh hướng của Hội, đã cùng Ban Bác ái Xã hội - Caritas Vinh triển khai các hoạt động ở trại phong Quỳnh Lập. Trong năm đầu tiên này, Hội đã hỗ trợ cho các gia đình bệnh nhân và những bệnh nhân đặc biệt số tiền là 22.000 đô-la Úc (những năm tiếp theo dự kiến sẽ nhiều hơn). Phần lớn số tiền hỗ trợ nhằm giúp phát triển kinh tế hộ gia đình bệnh nhân, giúp các bệnh nhân tham gia các hoạt động có ích, v.v.. Các họat động của Hội ở Quỳnh Lập đã khởi sự từ tháng 5/2011. Hồi đầu tháng 5, cùng với Caritas Giáo phận Vinh, Hội đã hỗ trợ các gia đình 15 con bò giống (trị giá mỗi con 10 triệu đồng). Hội còn tổ chức các chương trình thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các bệnh nhân vào các dịp Lễ, Tết.
Nhân chuyến công tác tại Việt Nam lần này, Cha Toàn, cũng là người sáng lập Hội,  đã tới trại phong Quỳnh Lập thăm hỏi, tặng quà và động viên các bệnh nhân. Lần đầu tiên đến trại phong này, khi chứng kiến hoàn cảnh éo le của những con người thương tật đầy mình, Cha đã rất cảm động, nhưng điều làm ngài cảm động nhất là các bệnh nhân Công giáo đã tham dự thánh lễ đông đủ và sốt sắng.
Đoàn đến trại phong lúc đó đã 11 giờ trưa, nhưng mọi người như quên đi cái mệt của một chuyến bay dài để dâng thánh lễ tại nhà nguyện của Trại. Sau thánh lễ, Cha Toàn nói chuyện và tặng quà cho các bệnh nhân ở hội trường. Sau đó, ngài đi đến từng phòng, từng nhà nơi có các bệnh nhân đang nằm liệt giường để thăm hỏi, động viện, tặng quà. Ngài đã trao trọn cho họ tình thương của người mục tử và món quà tình thương ấy là cái mà nhiều người bệnh muốn nhận được nhất. Khi Cha đến hỏi thăm những người bệnh tật, già cả neo đơn nhiều người cứ cầm tay Cha mãi và chảy nước mắt mà không nói nên lời. Quả thật, tình yêu thương đã giúp con người vượt qua mọi ranh giới về địa lý, niềm tin và nếp sinh hoạt để đến với nhau. Xin tri ân Thượng Đế đã liên kết mọi người trong tình yêu của Ngài.







Jos. Nguyễn Huệ

Thuận Nghĩa : Khai mạc giải bóng đá toàn giáo hạt


10.10.2011
GPVO - Để đón mừng Lễ Quan thầy - Thánh Phêrô Vũ Đăng Khoa 24/11/2011, đặc biệt tạo sân chơi lành mạnh, cổ vũ phong trào thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe, tăng cường gặp gỡ giao lưu và qua đó tiến tới hơn nữa
 sự hiệp thông và tinh thần sống đạo giữa bà con giáo dân trong cộng đồng, ngày 09/11/2011 giáo hạt Thuận Nghĩa đã tổ chức khai mạc “Cúp bóng đá giáo hạt”.



Chiều Chúa nhật 28 QN vừa qua, lễ khai mạc đã diễn ra long trọng trên 4 sân vận động: Thuận Nghĩa, Mành Sơn, Xuân An và Lộc Thủy (mỗi Chúa nhật có 4 trận đấu). Tham gia giải đấu có 10 đội bóng trong tổng số 12 giáo xứ của hạt (hai giáo xứ Phú Yên và Vĩnh Yên do thiếu cầu thủ nên không thể tham dự), các đội được chia làm hai bảng, thi đấu vào các ngày Chúa nhật. Dự kiến trận chung kết và lễ trao giải sẽ diễn ra vào chiều Chúa nhật áp lễ Thánh Phêrô Vũ Đăng Khoa.
Trong ánh nắng dịu dàng cuối thu và tiết trời se lạnh, trên sân vận động của giáo xứ Thuận Nghĩa chiều nay rực rỡ cờ hoa. Mặc dầu đang ở thời điểm vụ mùa, nhưng có rất đông bà con giáo dân thuộc hai giáo xứ Thuận Nghĩa và Cẩm Trường đã đổ về sân vận động để cổ vũ cho hai đội thi đấu trận khai mạc.
    
Đặc biệt tại buổi lễ khai mạc có sự hiện diện của Đức Cha già Phaolô Maria, Cha quản hạt Antôn Phạm Đình Phùng. Phát biểu trong lễ khai mạc, Cha quản hạt Antôn - Trưởng Ban tổ chức nhấn mạnh tình liên đới giữa các thành phần dân Chúa nhờ sự hiệp nhất trong một đức tin: “Trong đức tin, Giáo Hội quy tụ mọi người lại để làm thành dân của Chúa. Các cha trong hạt đã thống nhất với nhau tổ chức giải bóng đá giữa các giáo xứ trong giáo hạt để nối kết tình anh em con một Cha, thờ một Chúa”. Trong lời huấn từ, Đức Cha cũng nói lên hiệu quả và lợi ích của sinh hoạt thể thao, trước hết là cho giới trẻ về mặt thể chất cũng như tinh thần, và ngài cũng không quên động viên, khích lệ các cầu thủ thi đấu nhiệt thành.
Lễ khai mạc kết thúc với trận đấu giữa đội Thuận Nghĩa và Cẩm Trường, kết quả hòa 0-0. Trên các sân khác: Mành Sơn - Song Ngọc (3-1); Thanh Dạ - Yên Hòa (3-1); Lộc Thủy - Xuân An (4-3).
Đây là lần đầu tiên tại giáo hạt Thuận Nghĩa, giải bóng đá được tổ chức cách quy mô, bài bản, có thể làm cơ sở để triển khai cho các năm tiếp theo, nhằm tạo ra một giải đấu mang tính truyền thống được tổ chức hàng năm của giáo hạt.
Duy Nguyễn

(Nguồn : giaophanvinh.net)

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Nhân phẩm bị coi thường theo quan điểm chủ nghĩa duy vật vô thần

giáo huấn xã hội công giáo - Jennifer Fulwiler viết cho National Catholic Register về quan điểm cũ của bà là ủng hộ sự lựa chọn ăn chay, và làm thế nào bà vẫn tìm thấy quan điểm ấy phù hợp về mặt trí tuệ với một phần của thế giới quan duy vật vô thần.

Tôi đã từng là một người ăn kiêng có chọn lựa
Hiện nay, khi tôi rất không đồng ý với phần chọn lựa trong đó, tôi vẫn tìm kiếm vị trí ăn kiêng hoặc chọn lựa để thích nghi một cách khôn khéo – nếu nhụt chí – phần của quan điểm chủ nghĩa duy vật vô thần.
Theo cách mà tôi thường thấy nó, cả đời sống chỉ là những phản ứng hóa học, không có cách sống nào vốn mang tính xã hội hơn những thứ kế tiếp. Theo quan điểm này, lý do duy nhất mà con người sẽ được coi là giá trị hơn, nghĩa là một con sóc, vì con người có mức thông minh hơn và có lương tâm hơn con vật lông lá kia. “Sự thật” của vị trí này có vẻ hiển nhiên.


Chẳng hạn, đa số chúng ta không có vấn đề gì khi giết một sinh vật đơn giản như con muỗi, nhưng chúng ta sẽ bị phản đối khi giết một sinh vật thông minh hơn như một con chó. Mức thông minh tăng thì giá trị cũng tăng.
Tôi bắt đầu nghiên cứu các điều kiện của những lò sát sinh hiện đại, và phải quan ngại vì những gì mình phát hiện. Tôi quyết định chấp nhận chế độ ăn kiêng nhất. Có vài ngoại trừ mà tôi dựa vào mức nhận thức thấp của các động vật: Tôi ăn tôm và các loài giáp xác (cua, ốc, sò, nghêu,…) như nguồn cung cấp protein, biện hộ cách chọn lựa này vì cho rằng não của chúng không phức tạp như những động vật có vú và chim chóc.
Tôi có ý tốt, và quan điểm của tôi thích nghi theo nội tâm. Nhưng hàm ý đối với đời sống con người là nhụt chí.
Theo ý kiến tôi về sự xứng đáng của cuộc sống, người lớn ở bên phải; các bào thai ở bên trái. Người chưa sinh ở đâu đó như con tôm và con sâu theo cách nói về giá trị, vì chúng không thể phô bày nét thông minh nào. Và như vậy có vẻ bất công khi yêu cầu phụ nữ lật ngược đời sống mình xuống vì sinh vật có tất cả giá trị của loài giáp xác.
Mặc dù phải mất nhiều năm tôi mới hiểu rằng sự hiểu biết toàn bộ này về đời sống con người được phát hiện nhờ sự giả dối, thi thoảng tôi thoáng nhìn các ngụ ý ớn lạnh của quan niệm này.
Chẳng hạn, khi học đại học, tôi nghe một giáo sư nói rằng giết một trẻ sơ sinh thì đạo đức hơn là giết một con heo, vì heo thông minh hơn và biết môi trường xung quanh (!). Và tôi đã phỉ báng về sự ngu xuẩn của một khái niệm như vậy. Nhưng khi tôi cố gắng tranh luận phản đối điều đó, tôi nhận ra rằng ông ta thực sự dùng cách nhìn của tôi để biện hộ vị trí của ông ta.
Khi tôi bắt đầu nghiên cứu Công giáo, một trong nhiều thứ lập tức vang dội là thật, đó là giáo huấn của Giáo hội về nhân phẩm của con người. Đó là mỗi con người đều có một nhân vị – một nhân vị chỉ hiện hữu bằng nhân đức của một con người, bất kể vóc dáng to hay nhỏ, mức độ thông minh, mức độ lương tâm, hoặc bất kỳ đặc điểm nổi bật nào khác – như một nối kết với sự thật đã được “viết” lên trái tim.
Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ UCANews.com)

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Linh mục và Chính trị



Giáo huấn xã hội công giáo - 1. Ngày nay hơn bao giờ hết, con người bị vấn vương vào kinh tế và chính trị. Hai thứ này liên quan đến quyền lợi quốc gia, cá nhân và gia đình. Đó thường là mối bận tâm của nhiều người trong các cuộc đầu phiếu để chọn người vào các cơ quan công quyền của Nhà Nước, khi ứng cử, tranh cử và bầu cử. Nhưng thật là tai hại, nếu nghĩ rằng chính trị chỉ liên hệ đến hoàn cảnh kinh tế mà không liên hệ đến những gì khác nữa. Thật vậy, những dự định lớn lao nhằm phục vụ con người và công ích thường tùy thuộc vào kinh tế, nhưng không phải vì vậy mà được bỏ qua không nghĩ đến các vấn đề liên hệ đến quyền sở hữu, việc sử dụng, lưu hành và phân phối các của cải vật chất.

2. Đó là những vấn đề bao hàm chiều kích đạo đức mà các linh mục phải lưu tâm để phục vụ con ngưòi và xã hội, như nhiệm vụ Chúa Giê-su đã trao phó cho các vị. Chúa Giê-su đã đề ra một giáo thuyết và ban truyền những huấn lệnh soi sáng đời sống con người và xã hội. Đặc biệt Người đã rao truyền tình tương thân tương ái. Lệnh truyền này bao hàm sự kính trọng con ngưòi và quyền lợi của mỗi người, đề cao các luật lệ về công bình xã hội, nhìn nhận tất cả những gì thuộc về con người và phân chia đồng đều của cải vật chất cho các cá nhân, gia đình cũng như đoàn thể. Hơn nữa, Người còn nhấn mạnh đến tính phổ quát của tình thương vượt lên trên những sự khác biệt về chủng tộc hay quốc gia. Khi tự nhận và xưng mình là “Con Người”, Chúa Giê-su đã muốn dùng danh hiệu “mê-si-a” để xác quyết rằng công trình của Người là dành cho mọi người không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa. Khi loan báo Tin mừng bình an cho các môn đệ và mọi người, Chúa Giê-su đã đặt nền móng dựa trên các huấn thị về tình huynh đệ, nghĩa liên đới, sự tương thân tương ái trong một khung cảnh phổ quát. Đã rõ là đối với Người, đó là mục đích và nguyên tắc để tạo ra một căn bản chính trị chân chính.
3. Dù vậy, đã không bao giờ Người muốn dấn thân vào một phong trào chính trị. Người đã luôn tránh mọi cuộc vận động nhằm đưa Người vào những công việc và vấn đề trần thế (Ga 6,15) Vương quốc Người thành lập không thuộc trần gian này (Ga 18,36). Những ai muốn Người bày tỏ lập trường đối với chính quyền, Người nói rõ : “Trả cho Xê-da cái thuộc về Xê-da, trả cho Thiên Chúa cái thuộc về Thiên Chúa.” (Mt 22,21) Người đã không bao giờ hứa với dân Do thái, đồng bào của Người, là sẽ giải phóng họ cho khỏi ách thống trị của người Rô-ma, như người ta vẫn đợi chờ nơi một Đấng Mê-si-a như Người. Chúa Giê-su đã xác quyết Người đến như Con Thiên Chúa để hiến cho loài người đang bị tội lỗi thống trị sự giải phóng về đường thiêng liêng và ơn gọi vào Nước Thiên Chúa. (Ga 8,34-36). Người đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Ga 20,28). Người dạy rằng các môn đệ, đặc biệt là các Tông đồ không được nghĩ đến quyền hành trần thế và sự thống trị các dân như quan quyền thế gian, mà phải là những người phục vụ khiêm tốn (Mt 20,20-28), như Chúa và Thầy mình đã làm gương (Ga 13,13-14).
4. Tất nhiên, sự giải phóng về đường thiêng liêng do Chúa Giê-su mang lại phải có những hiệu quả rõ rệt trong mọi góc cạnh của đời sống cá nhân cũng như tập thể, mở ra một cách lượng giá mới về con người xét như một nhân vị, cũng như các tương quan giữa con người với nhau theo đức công bình.
Tình trạng nghèo khó và quyền tự do chính đáng của con người là những địa hạt rất thích hợp cho đời sống linh mục, vì linh mục là phát ngôn nhân của Chúa để công bố Tin Mừng cứu độ loài người và là thừa tác viên để áp dụng hậu quả vào mọi địa hạt và trên mọi cấp bậc. Thượng Hôi đồng Giám mục năm 1971 viết : “Các linh mục cũng như toàn thể Hội thánh và cùng với Hội thánh, buộc phải chọn một cách hành động rõ ràng với tất cả khả năng của mình, khi quyền lợi căn bản của con người cần được bảo vệ, khi việc phát triển toàn diện con người cần được cổ võ, khi công lý và hòa bình cần phải thực thi bằng những phương pháp thích hợp. Tất cả những điều này đều có giá trị không nguyên trên bình diện cá nhân mà còn trên bình diện xã hội. Vì vậy, các linh mục phải giúp giáo dân tự luyện cho mình một lương tâm ngay thẳng.” (Ench.Vat.IV 1194) Điều này được nói rõ hơn trong sách Giáo lý công giáo : “Trực tiếp can thiệp vào chính trị và tổ chức đời sống xã hội không phải là việc của các mục tử trong Hội thánh. Nhiệm vụ này thuộc ơn gọi của giáo dân hành động theo sáng kiến riêng của họ với đồng bào mình.” (GLCG số 2442)
5. Người Ki-tô hữu được kêu gọi dấn thân trực tiếp vào các hoạt động này để góp phần làm cho các nguyên tắc của Tin Mừng luôn nổi bật trong xã hội. Linh mục trực tiếp dấn thân theo Chúa Ki-tô vào việc phát triển Nước Thiên Chúa. Cũng như Chúa Ki-tô, linh mục phải từ chối dấn thân vào những hình thức hoạt động chính trị, nhất là chính trị đảng phái, để bao giờ cũng là người của mọi người, là hiện thân của tình huynh đệ và phụ tử thiêng liêng.
Đương nhiên, có thể có những trường hợp đặc biệt xem ra nên và cần làm để giúp đỡ và thay thế, khi các tổ chức dân sự lỏng lẻo hay lệch lạc. Các tổ chức của nhà đạo thường đã thi hành nhiệm vụ này trong lịch sử với tất cả những cái lợi và bất lợi, cũng như những khó khăn từ đó mà ra. May mắn thay, thời buổi bây giờ đã đổi khác và chính trị cũng phát triển theo đường hướng khác. Xã hội dân sự dần dà có những tổ chức và phương tiện để hoàn thành tốt trách nhiệm của mình (GS 40 và 76).
Hội thánh lo hoàn thành nhiệm vụ của mình là loan báo Tin Mừng, tuy cũng có khi hợp tác để lo thực hiện công ích, nhưng không ước mơ và chấp nhận đảm trách những vai trò có tính chính trị.
Thượng Hội đồng Giám mục năm 1971 đã ra chỉ thị cho các linh mục trong vấn đề chính trị. Linh mục có quyền đưa ra ý kiến về chính trị và bỏ phiếu theo lương tâm mình, nhưng phải đứng xa không được tham gia hay dấn thân làm chính trị (Ench.Vat IV 1195). Chính trị đảng phái không được đồng hóa với chân lý Tin Mừng. Linh mục phải lưu tâm đến tính tương đối của chính trị ngay cả trong trường hợp có nhiều tín hữu gia nhập đảng phái làm chính trị theo các định hướng của Tin Mừng. Cũng phải nói thêm là quyền của linh mục được bày tỏ các lựa chọn riêng cũng bị giới hạn vì các đòi hỏi do thừa tác vụ của mình. Sự giới hạn này cũng có thể là một chiều kích của đức nghèo khó phải thực hành theo gương Chúa Ki-tô.
6. Thực thế, đôi khi linh mục phải giữ không thi hành quyền của mình để có thể là dấu hiệu về sự hợp nhất và do đấy có thể loan báo Tin Mừng cách hữu ích hơn. Thượng Hội đồng năm 1971 nhắc nhở các linh mục nên tránh dấn thân vào các hoạt động chính trị như nhận trách nhiệm điều khiển với tư cách là chính khách, trừ khi vì ích chung được Đấng Bản quyền và Hội đồng Linh mục sở tại đồng ý và cho phép (Ench.Vat IV 1197)
7. Đối với các linh mục, sự tận tâm nhiệt thành muốn góp phần vào việc lành mạnh hóa đời sống chính trị như loại bỏ bất công, chống lại việc khai thác sức lao động của phụ nữ và trẻ em cũng như bênh vực kẻ bị đàn áp dưới mọi hình thức là điều tốt, nhưng Hội thánh nhắc lại rằng các linh mục rất có thể bị lôi cuốn vào những hoạt động đảng phái, nên phải hết sức thận trọng và canh chừng.
Kết luận
Linh mục không được làm chính trị nhưng có quyền và bổn phận phải lên tiếng bênh vực  lẽ phải và sự công chính, vì lợi ích của những người không có tiếng nói hay tiếng nói không được đếm xỉa. Làm như thế, linh mục không làm chính trị, nhưng là thực thi bổn phận chính trị đối với con người, hiểu theo nghĩa là góp phần vào việc lo cho “công thiện công hảo”.
L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p

Phê bình thuyết vô thần của Karl Marx* (phần I)


lamhong - 1. FEUERBACH (1804-1872)
“Đối với Đức Quốc, việc phê bình tôn giáo qua những điểm căn bản được coi như đã hoàn tất”. Khi viết như thế nơi một trong những tác phẩm đầu tay, Marx muốn ám chỉ Feuerbach và tác phẩm nổi tiếng: “L’essence du chritianisme” (1841).

Chúng ta tạm bỏ qua nhiều điểm trong tác phẩm trên của Feuerbach, mà chỉ nêu lên những đường hướng chính trong việc phê bình tôn giáo của ông.
A. LÝ THUYẾT CỦA FEUERBACH
1. Tôn giáo phát sinh do khát vọng đạt tới một lý tưởng. Con người mang trong mình, dưới hình thức một khát vọng, một lý tưởng về sự hoàn hảo và hạnh phúc: Khôn ngoan, tình yêu vô vị lợi, ý thức công bằng. Con người nhận biết tính cách lý tưởng của những giá trị này khi họ so sánh một cách trực giác và lờ mờ tính chất vô cùng với những giới hạn của con người. “Con người cá nhân rất có thể và phải cảm thấy cùng nhận ra rằng mình hữu hạn, nhưng biết được như vậy là nhờ họcảm thấytrực giác hay quan niệm được sự hoàn hảo và tích cách vô cùng của chủng loại mình”.
2. Tôn giáo chỉ là thực tại hóa lý tưởng ấy: “ảo ảnh tôn giáo hệ tại ở chỗ ngoại xuất cái đối tượng nội tại trong tư tưởng chúng ta, nhằm thực tại hóa và nhân cách hóa đối tượng đó”. Các ưu phẩmthần linh chính là sự thực tại hóa các thuộc tính nhân loại không phải của mỗi cá thể nhưng của toàn thể chủng loại: Thượng Đế không gì khác hơn là lý trí xét dưới đặc tính tuyệt đối của nó.
 “Khôn ngoan, ý chí, công bằng, tình yêu, và con biết bao nhiêu thuộc tính vô cùng nữa, tất cả cấu tạo nên hữu thể riêng biệt của con người… và tự nhiên con người phóng ngoại chúng, khách thể hóa chúng thành một chủ thể huyền hoặc, một sản phẩm tưởng tưởng và họ gọi chủ thể ấy là Thượng Đế” (de Lubac). Do đó, cái khả niệm tối thượng trở thành “hiện thể thực sự nằm ngoài tư tưởng của ta, ở ngoài ta, nó tự thân và quy ngã”. “Thần linh chính là những ước muốn của con người đã được thực hiện”.
3. Thái độ của con người đưa đến những hậu quả thật tai hại, được cụ thể hóa dưới hai hình thức đặc biệt:
* Một sự trống rỗng của con người: Khi hành động như thế, con người tự “vong thân”. Lịch sử đã minh chứng cho thấy con người đã chối bỏ cái bản ngã tốt nhất của mình, đã tự “phi nhân hóa’. Con người trở nên nghèo đi khi làm giàu Thượng Đế. “Con người xác quyết nơi Thượng Đế điều mà họ chối bỏ nơi chính mình”. Khi gán cho một Hữu Thể ảo tưởng tất cả những khát vọng của mình, con người tôn giáo tự lột bỏ và đánh mất phần tốt nhất của mình cho một ảo tưởng, biến bản thể của họ càng trở nên nghèo nàn”.
* Hy vọng cứu rỗi có tích cách tôn giáo: Trở nên nghèo nàn trước một Thượng Đế giàu có bằng chính những thuộc tính của mình, con người mong đợi Thượng Đế ban hạnh phúc và thực hiện toàn vẹn những mơ ước của mình trong một thế giới bên kia đã được tạo ra vì mục đích đó.
4. Tất nhiên phải kết luận: Con người, để thực sự là người, phải phá hủy sự vong thân này, phải “giảm trừ sự nhị trùng hóa này”. “Tôi chối bỏ Thượng Đế, điều đó có nghĩa là tôi chối bỏ sự chối bỏ con người. Thay vào vị thế ảo tưởng, huyền hoặc, thiên giới của con người mà hậu quả tất yếu là sự chối bỏ con người trong đời sống thực tế, tôi lập lại vị thế khả giác, thực sự của con người. Vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng Đế đối với tôi chính là vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của con người”[1]
B. Phê bình chủ thuyết của Feuerbach
* Mặc dù dẫn chứng rất nhiều tài liệu, Feuerbach quả quyết nhiều mà không bao giờ chứng minhthực sự. “Ông dẫn chứng tài liệu không nhằm để làm nền tảng, nhưng chỉ dùng để minh giải những luận đề đã có trước. Ông đã phán quyết trước khi cầm bút: Tôn giáo chỉ có thể là một ảo tưởng”[2]
* Ông đã sử dụng khái niệm tôn giáo quá hàm hồ. Mọi tôn giáo đều được ông xếp chung vào phạm trù hữu thần. Ông không cố gắng để phân biệt Thượng Đế của đức tin Kitô giáo với các thần linh của những tôn giáo sơ khai. Bởi đó ông không tôn trọng thực tại lịch sử của sự kiện tôn giáo.
* Ông chủ trương trở về với con người cụ thể. Nhưng thực tế, ông chỉ nói về người như một chủng loại. Đối tượng đích thực của tôn giáo, theo ông, không phải là Thượng Đế nhưng là Yếu Tính lý tưởng của con người. Về điều đó, sau này Engels đã nói: “Việc tôn thờ con người trừu tượng là tâm điểm của tôn giáo mới theo Feuerbach”.
* Sai lầm trong nguyên tắc tri thức luận. Ông đưa ra một nguyên lý tổng quát: đối duy nhất của tri thức con người chính là bản tính con người và các thuộc tính của nó.
* Nếu như Feuerbach chủ trương, con người xét như một chủng loại có các thuộc tính vô cùng, thì tại sao con người lại gán chúng cho một hữu thể ở ngoài chủng loại người để biến đổi chúng thành một chủ thể gọi là Thượng Đế? Và nếu sự vong thân tôn giáo gắn liền với yếu tính con người, làm sao Feuerbach có thể thoát khỏi được?
* Những khả năng ấy (tình yêu, tri thức…) con người không làm chủ chúng được, bởi vì không có chúng con người không là gì hết… Chúng là những yếu tố căn bản của con người và con người không thể chiếm hữu cũng không thể tạo ra chúng được… Chúng là những sức mạnh tuyệt đối và thần linh”. Nhưng như vậy thì những sức mạnh đó từ đâu đến?
* Lẫn lộn giữa khái niệm nguyên nhân tính nơi Thượng Đế với nguyên nhân tính của các hữu thể hữu hạn. Theo ông, sự quan phòng của Thượng Đế hủy diệt sáng kiến và tự do của con người. Feuerbach không biết đến nguyên nhân sáng tạo và đại lượng đã ban cho con người chính sự tự do sáng tạo của mình.
II. KARL MARX (1818-1883)
A. Marx đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Feuerbach. Ông đã phê bình Feuerbach cách tỉ mỉ. Dù sao ông cũng đã chấp nhận một vài điểm và cũng phủ nhận một số ý tưởng của Feuerbach.
Marx ca ngợi Feuerbach về những điểm sau đây:
* Chủ thuyết duy vật chống lại chủ thuyết duy tâm của Hegel.* Trở về những vấn đề đích thực, đó là những vấn đề con người.* Giải thích tôn giáo bằng vong thân và ảo tưởng.
Nhưng Marx lại tố cáo Feuerbach về những sai lầm sau đây:
* Thay thế con người cụ thể bằng một thể thức tưởng tượng, trừu tượng: đó là chủng loại người.* Bỏ qua tính cách lịch sử và xã hội của con người, cũng như vai trò ưu tiên của những cơ cấu kinh tế trong nền văn minh nhân loại.Không chú tâm đến biện chứng pháp ảnh hưởng đến vật chất và lịch sử.Không chú ý đến sự giải phóng con người về phương diện pháp lý, luân lý và chính trị; không biết đến vai trò thiết yếu của cách mạng.Không am tường nguyên nhân đích thực gây nên cảnh huống khốn cùng của nhân loại.
Do đó Feuerbach không nhận ra những phương thế thực tiễn để giải thoát con người khỏi cảnh khốn cùng và làm cho con người được hạnh phúc.
B. Phê bình tôn giáo và thượng đế của Marx
1. Khác với Feuerbach, cả Marx lẫn Engels đều không muốn phê bình tôn giáo như một kẻ thông thạo vấn đề. Đối với duy vật lịch sử, tôn giáo chỉ diễn tả trạng huống căn bản, trong đó con người là nạn nhân một nền kinh tế vô nhân đạo và bị vong thân về phương diện xã hội. Thế nên tôn giáo phải biến mất khi trạng huống nói trên chấm dứt.
Đặc biệt Marx không hề bàn cãi suông những vấn đề tôn giáo. Ngoại trừ vài hàng ở cuối luận án tiến sĩ của ông[3]. Người ta sẽ  không bao giờ thấy Marx bài bác những lý chứng về sự hiện hữu của thượng đế. Dường như đối với ông, vấn đề này được xác quyết tiên thiên rồi. Phê bình của Marx về ý tưởng Thượng Đế và về tôn giáo thực ra nhằm vạch trần những điệu kiện xuất hiện cụ thể và những hậu quả tai hại của chúng. Tôn giáo, ý tưởng Thượng Đế ở đây chỉ được xem như những hiện tượng, những sự kiện cần xác định nguyên nhân và hậu quả. Marx không hề khảo sát và bàn cãi về giá trị chân lý của tôn giáo. Như thế chúng ta vẫn còn ở ngoài vấn đề.
2. Chủ thuyết của Marx là một chủ thuyết duy vật biện chứng và lịch sử.
* Duy vật biện chứng: Vật chất không phải  là một thực thể tự nó bất động, và một lúc nào đó nó sẽ chuyển động một cách huyền bí như phái Descartes chủ trương. Vật chất vốn biến dịch dưới ảnh hưởng của trương lực nội tại không ngừng nhảy vọt từ một trạng thái này đến trạng thái khác đối nghịch, để rồi đi đến một tổng hợp nối kết chúng lại trên một bình diện cao hơn. Rồi đến lượt, tổng hợp này lại phân tán để đi đến một tổng hợp khác cao hơn nữa và cứ như thế mãi mãi mà không bao giờ đạt tới quân bình tối hậu. Như vậy có sự tiến bộ về phẩm tính, có trổi vượt thật sự. Mọi sự không giản lược vào những thay đổi thuần chất lượng, hay đúng hơn, chính những thay đổi chất lượng này khi đạt tới một trình độ nào đó thì phát sinh (theo biện chứng pháp trung thực của Hegel) những thay đổi về phẩm tính. Vậy sự sống là cái gì còn cao hơn một chuỗi những phản ứng thuần vật lý học, và ý thức cao hơn những phản ứng thuần sinh vật học. Những trạng thái thượng đẳng và đặc biệt những trạng thái gắn liền với sự xuất hiện của ý thức, tạo thành thượng tầng cơ sở này. Những thượng tầng cơ sở này – ở một mức độ nào đó mà những người theo chủ nghĩa Marx chưa định rõ -, đều tự trị đối với những hạ tầng cơ sở, và có thể tác động trên hạ tầng cơ sở. Tuy nhiên chúng không thoát khỏi những ảnh hưởng có tính cách tất định của hạ tầng cơ sở. Mặc dù có sự bất ổn giữa hai trạng thái, nhưng sau cùng những điều kiện vật chất luôn nắm phần ưu thắng[4].
*Duy vật lịch sử: Cũng như mọi biến đổi của các thượng tầng cơ sở lịch sử bị chi phối và quy định bởi những hiện tượng căn bản, nghĩa là “những hiện tượng trực tiếp gắn liền với những hoạt động vật chất nhất, đó là những hiện tượng kinh tế. Nói rõ hơn, đối với chủ thuyết của Marx, con người chính là một hữu thể tự tạo lấy mình bằng cách sản xuất những phương thế sinh tồn. Chính những phương pháp, những dụng cụ và những tương quan sản xuất khác nhau cắt nghĩa tận nguồn những thay đổi xã hội, chính trị và văn hoá. “Máy xay bằng tay tạo nên xã hội lãnh chúa, máy xay hơi nước tạo nên xã hội với kỹ nghệ tư bản”[5].
Những hiện tượng tôn giáo cũng chỉ là phản ảnh các biến đổi kinh tế. Đạo Công Giáo gắn liền với cơ cấu của thời phong kiến, cũng như đạo Tin Lành gắn liền với những cơ cấu của kỷ nguyên tư bản. Sự xuất hiện độc thần giáo là kết quả của toàn bộ những yếu tố sản xuất. Mặc dù có nhiều xáo trộn, nhưng ít ra ta thấy thái độ tôn giáo nói chung, ý tưởng về Thượng Đế vẫn tồn tại đến nay. Sự tồn tại này chỉ nói lên sự tồn tại của một tình trạng kinh tế căn bản mà trong đó con người không thể là người hoàn toàn, trong đó con người bị vong thân.
Đối với chủ thuyết của Marx, đó là nguồn gốc đích thực của ý tưởng Thượng Đế. Sở dĩ con người cảm thấy cần phải giả thiết một hữu thể để mình lệ thuộc và được giúp đỡ trong lúc thiếu thốn, chính là vì con người không tìm thấy nơi mình cái thực thể toàn vẹn của mình, cái lý tính viên mãn của mình. Họ ý thức rằng mình không tự thỏa mãn, và để ra ngoài một phần bản thể của mình. Thế mà chủ thuyết của Marx muốn giải thích ý thức đó bằng những yếu tố kinh tế. Cái phi lý của cuộc hiện sinh, cái vô lý của kiếp sống cụ thể, việc sản xuất bừa bãi, việc phân công cho dù là cần thiết, tất cả đã sinh ra sự chia rẽ và đối nghịch giữa các giai cấp: Kẻ thành thị người thôn quê, kẻ cai trị người bị trị, giới trí thức và hạng thợ thuyền, trưởng giả và vô sản. Mỗi lớp như thế đánh mất tất cả sự phong phú của con người mà giai cấp đối lập đang đặc hưởng. Như vậy, con người cảm thấy mình bị tách chia, bị phân xé. Bản tính con người phần nào trở nên xa lạ với chính mình. Nó bị vong thân. Con người không cảm thấy xã hội như một thực thể phần nào nội tại với chính mình, như điều kiện tối thượng giúp mình thăng tiến đầy đủ, và cũng không thấy rằng quyền lợi của xã hội cũng là của mình. Xã hội đối với con người như là một sức mạnh ngoại tại, xa lạ với cuộc sống cụ thể của họ. Xã hội đó chính là quốc gia.
Ý tưởng Thượng Đế được coi như sự phóng ngoại huyền hoặc của việc vong thân căn bản này. Nó nói lên cảnh khốn cùng của giai cấp bị trị, đồng thời cũng là khí cụ để giai cấp thống trị kéo dài quyền thống trị của mình.
“Tôn giáo là ý thức và cảm thức con người  có về chính mình khi họ chưa đạt tới chính mình hoặc đã đánh mất chính mình. Nhưng  con người lại không phải là một hữu thể trừu tượng đứng ngoài thế giới. Con người chính là thế giới của con người, là quốc gia, là xã hội. Quốc gia ấy, xã hội ấy sản xuất ra tôn giáo và tôn giáo là một tình trạng ý thức về thế giới phi lý, bởi vì quốc gia, xã hội này là một thế giới phi lý. Tôn giáo là lý thuyết tổng quát về thế giới ấy…, là sự thể hiện huyền hoặc của con người, bởi vì con người không sở hữu một thực tại đích thực… Sự khốn cùng của tôn giáo một đàng biểu lộ sự khốn cùng trong thực tế, đàng khác lại là phản kháng chống lại chính sự khốn cùng trong thực tế ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của tạo vật bị áp chế, là linh hồn của một thế giới không hồn, cũng như là tinh thần của một nền văn minh mà tinh thần đã bị trục xuất. Tôn giáo là thuốc phiện mê dân”[6].
Tiếp đó, Marx và Angels xác định rõ ràng  tư tưởng của mình về nguồn gốc lịch sử tôn giáo. Đối với những xã hội sơ khai, kém mở mang về kinh tế, nếu đem gắn những yếu tố cố định về kinh tế cho những niềm tin tưởng huyền hoặc nơi những tâm thức ngu dốt, thì thật là buồn cười. Ta chỉ có thể nói rằng sự kém mở mang tri thức làm nảy sinh những điều huyền hoặc trên, chính là con đẻ của một nền kinh tế kém mở mang[7]. Như vậy, “tôn giáo phát sinh vào một thời kỳ rất xa xưa, thời của những biểu tượng sơ khai lệch lạc của con người, liên quan đến chính bản tính con người và thiên nhiên bao chung quanh”[8]. Như thế những người theo chủ thuyết của Marx đã không đưa ra lý thuyết nào đặc biệt về nguồn gốc lịch sử tôn giáo: Marx và Angels chỉ dựa vào những lối giải thích thông thường thời ấy (thuyết duy hồn, duy nhiên). Trái lại, đối với những xã hội lich sử có nền kinh tế mở mang và phân chia giai cấp, thì những yếu tố kinh tế đã có ảnh hưởng thực sự. Trong những xã hội này, giai cấp thống trị cố bảo tồn, phát triển và sử dụng những ý thức hệ phi lý của thời kỳ sơ khai để thụ lợi.
3. Giải thích nguồn gốc tôn giáo như thế cũng chính là kết án tôn giáo. Tôn giáo không phải chỉ là ảo tưởng mà còn tai hại nữa. Nó tước đoạt nhân tính và phẩm tính của con người để mặc cho một hữu thể tưởng tưởng[9]. Nó hạ thấp con người khi tạo cho con người một ý thức về tội lỗi, khi dạy con người phải khiêm tốn, khi làm cho con người cảm thấy mình đáng khinh bỉ, coi những khuynh hướng tự nhiên và vô tội nhất nơi mình như là xấu xa ác hại[10]. Nhất là khi cung cấp cho con người một sự an ủi giả dối và ru ngủ họ bằng một niềm hy vọng hảo huyền, tôn giáo làm cho con người không còn cố gắng và chiến đấu cho những lợi ích thực tế, cho sự giải phóng thực sự. Tôn giáo “huyền hoặc hóa” con người.
Chính vì thế “hạnh phúc của con người đòi phải hủy diệt tôn giáo, một thứ hạnh phúc giả tạo của quần chúng. Phải chối bỏ những ảo tưởng về tình trạng của chính mình, chính là phải chối bỏ một tình trạng đang cần đến ảo tưởng. Như vậy, phê bình tôn giáo cũng là phê bình cái thung lũng nước mắt này bởi vì hình ảnh hào nhoáng của nó là tôn giáo”[11].
4. Tuy nhiên, mặc dù sự phê phán tôn giáo là điều kiện tiên quyết của mọi phê phán khác[12], mặc dù phải chiến đấu chống lại tôn giáo, nhưng không cần phải dùng đến những biện pháp mạnh. Vì tôn giáo chỉ là phản ảnh của một thế giới, trong đó con người chưa hoàn toàn là người, nên nó sẽ tự động biến mất khi thế giới này trở nên nhân bản hơn. Sự vong thân đã lên đến tột độ trong hàng ngũ vô sản, hậu quả của hệ thống tư bản, nhưng chính từ hàng ngũ này sẽ nẩy sinh ra con người mới. Kết tinh mọi mình thức vong thân của con người trong chính sự vong thân của mình, giới vô sản sẽ chặn đứng mọi hình thức vong thân khi tự giải phóng chính mình. Mâu thuẫn từ bên trong (chênh lệch giữa sự phát triển các khả năng sản xuất và quan niệm cũ về sở hữu) chủ nghĩa tư bản sẽ tự động sụp đổ trước kẻ thù chính nó tạo ra. Lúc đó sẽ xuất hiện một xã hội “vô giai cấp”, trong đó không còn những xung đột, và con người sẽ thực hiện được trọn vẹn nhân tính của mình. Hoàn toàn hòa giải với chính mình, hoàn toàn mãn nguyện với chính mình, con người sẽ không nghĩ đến việc tìm kiếm một nguồn an ủi ảo tưởng nữa.
“Trong tương lai, nhờ có mọi phương tiện sản xuất và sử dụng chúng một cách có phương pháp, xã hội sẽ tự giải phóng mình và giải phóng mọi phần tử khỏi vòng nô lệ hiện nay đang trói buộc mình bằng những phương tiện sản xuất mà chính xã hội đã sản xuất ra, nhưng lại bị chúng đối nghịch lại như một ngoại lực cao hơn. Con người sẽ không chỉ suy tư, mà còn cai trị nữa. Chỉ khi đó ngoại lực cuối cùng còn phản ảnh trong tôn giáo mới biến mất, đồng thời chính phản ảnh tôn giáo cũng biến mất, vì lý do giản dị là không còn đối tượng để phản ảnh nữa”[13].
5. Chủ thuyết của Marx là một nhân bản thuyết vô thần hoàn bị nhất.
Chưa bao giờ sự tự mãn của con người đã được xác quyết một cách sâu xa và khai triển một cách mạch lạc như vậy. Thượng Đế đã bị loại bỏ vì liên đới với một loại thân phận con người nào đó mà chủ thuyết của Marx không những muốn thấu hiểu mà còn loại trừ.
Dường như Marx nghĩ rằng sự cần thiết xác nhận Thượng Đế phải gắn liền với một hiện trạng căn bản hơn sự vong thân về mặt kinh tế: đó là hiện trạng của hữu thể hữu hạn và bất tất. Marx quan niệm như thế bởi vì thuyết nhân bản kiểu prométhée của ông không thể chấp nhận một giả thuyết cho rằng con người không phải là hữu thể tối thượng, không phải là vạn năng trong bản tính thực sự là người của họ.
“Sự phê bình tôn giáo đưa đến học thuyết chủ trương rằng con người là hữu thể tối thượng đối với con người, do đó nhất thiết phải lật đổ mọi tương quan xã hội, trong đó con người là một hữu thể bị hạ giá, ức chế, bỏ rơi, đáng khinh bỉ”[14]. 
(còn tiếp)

* Tiêu đề do Lam Hồng đặt. Trích từ cuốn Con người và vấn đề Thượng Đế của Lm. Louis Leahy, S.J, Phân khoa Thần học, Giáo hoàng Học viện thánh Piô X, Đà Lạt, Việt Nam 1974. Bản điện tử do Lam Hồng thực hiện.

[1]. x. JAMES COLLINS, God is Modern Philosophy, Chicago 1959: Feuerbach’s humanizing of hegelian absolute, tr 239-249.
[2]. x. H. GOLLWITZER, Athéisme marxite et foi chrétienne, Paris 1965, tr 78.
[3]. K. Marx, Différence de la philosophie de la nature chez Démocrite et chez Épicure, Tuyển Tập 3, trong Œuvres philosophiques, bản dịch MOLITOR, quyển I, Paris, tr. 80. Marx-Engels Gesanr-tausgbabe (Mega); Iste Abteil, bản dịch 1, tr. 80-81.
[4] x. Lettre à Heinz Starkenburg, 25-1-1894, trong MARX-ENGELS, Etudes philosophiques, Paris 1935, tr. 162…
[5] x. K.MARX, Misère de la philosophie, MEGA, I, bản dịch 6, tr. 179 
[6] K. Marx, Contribution à la critique de la philosophie du droit de Hegel, bd. Molitor I, tr. 83-84; bản dịch sửa chữa theo Mega, Marx-Engels Gesamtausgabe, I, bd I, tr. 607.
[7] x. ENGELS, Lettre à Conrad Schmidt, 27-10-1890, trong K. Marx. F. Etudes philosophiques, Paris 1935, tr 157.
[8] X. ENGELS, Ludwig Feuerbach, tr. 63.
[9] x. La Sainte Famille, ch VIII, 2 B, MOL. III, tr. 56-59; MEGA, I, Ed 3, tr. 350-351, nói về “Fleur de Marie”, nhân vật trongMystère de Paris, của EUGENE SUE.
[10] Sđd. tr. 61-62; MEGA, 352-353.
[11] X. Contribution à la critique de la philosophie du droit de Hegel, MOL, I, tr. 14. MEGA, I, tr. 607-608.
[12] Sđd, tr. 83; MEGA; tr. 607.
[13] x. ENGELS, Anti-Durhing, III, ch. 5; bản dịch BRACKE, III.
[14] x. La Sainte Famille.

THƯ MỤC VỤ GỬI HỌC SINH – SINH VIÊN NĂM HỌC 2011-2012



THƯ MỤC VỤ GỬI HỌC SINH – SINH VIÊN
NĂM HỌC 2011-2012

Kon Tum, ngày 01 tháng 10 năm 2011



Các con thân mến,

Các con đã bắt đầu năm học mới 2011-2012 được 45 ngày rồi mà tới hôm nay cha mới gửi thư chúc mừng. Dịp Tết Trung Thu vừa qua bận đón tiếp Đức Sứ Thần Tòa Thánh Léopoldo Girelli, nên cũng không viết cho các con một chữ nào. Nhưng Cha vẫn nhớ các con và hiệp thông với các con trong kinh nguyện. Hôm nay khi mừng lễ Thánh trẻ Têrêxa, cha nhớ đến các con cách đặc biệt, cha chia sẻ với các con vài tâm tình mà cha hằng ấp ủ và cách riêng luôn nhớ tới trong suốt cuộc hành trình công tác tại Pháp, quê hương của Thánh nữ Têrêxa tuần vừa qua (từ 16.09 đến 22.09.2011), nhất là khi đặt chân lên đất Na-uy ở cực bắc, nơi có một nền giáo dục thật tích cực và phát triển.

I. Giáo hội với công cuộc giáo dục.

Các con rất thân mến,

Tại nhiều xứ đạo Việt nam thấy vẫn còn thấy treo khẩu hiệu “Giáo dục hôm nay, xã hội và giáo hội ngày mai”! Đây là khẩu hiệu lấy từ Thư Chung của HĐGMVN năm 2007! Khẩu hiệu muốn nói gì? Muốn biết một gia đình văn minh tiến bộ thế nào, cứ việc bước vào nhà bếp, nhà vệ sinh sẽ biết ngay! Muốn biết một đất nước tiến bộ ra sao, cứ nhìn đám trẻ sẽ hiểu ngày mai sẽ ra sao! Nhìn Nước Nhật, Nước Hàn ngày nay phát triển mau chóng đứng ngang tầm các quốc gia tiên tiến và còn hơn thế nữa là nhờ những thập niên qua họ đã biết đầu tư rất nhiều vào công cuộc giáo dục đào tạo lớp trẻ, để ngày nay có những lớp nhà lãnh đạo có khả năng trí tuệ, có khả năng đạo đức, có ý thức trách nhiệm và biết hành xử đúng đạo lý “làm người lớn”! Vì “Giáo dục giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người và ảnh hưởng của nó luôn gia tăng trên đà tiến triển của xã hội hiện nay” (Vat.2, GD mở đầu). Bởi vì “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giai cấp và tuổi tác, do phẩm giá con người, đều có một quyền bất khả nhượng là phải được hưởng một nền giáo dục đáp ứng sứ mạng riêng, phù hợp với cá tính của từng phái, thích nghi với văn hóa và truyền thống dân tộc, đồng thời mở rộng sự hợp tác huynh đệ với các dân tộc khác, để hỗ trợ công cuộc hợp nhất chân chính và hòa bình trên trái đất” (Vat.2, GD số 1).

Tại Việt Nam, nhà chức trách đã và đang luôn cố gắng nhiều trong lãnh vực giáo dục và đào tạo. Sau 1975, chính quyền đã có sẵn rất nhiều cơ sở giáo dục của các tư nhân và các tôn giáo cùng hàng ngũ đông đảo giáo chức lành nghề của Miền Nam Việt Nam. Sau đó cũng đã có thêm nhiều cơ sở mới, các lớp đào tạo các giáo viên mới, nhưng báo chí, đài mạng và dư luận quần chúng vẫn không ngớt than phiền và nói tới tình trạng ngày càng sa sút trầm trọng của nền giáo dục Việt Namhôm nay!? Đã có nhiều nhận định, phân tích với nhiều đề nghị tích cực, nhưng công việc vẫn chưa thấy sáng sủa! Tại sao Phẩm chất giáo dục lại chưa đạt? (x. Thư Chung HĐGMVN 2010 số 7). Có nhiều nguyên do. Chủ yếu có phải vì “…. Chủ trương tương đối và hưởng thụ, tình trạng giáo dục bất cập, những cách trình bày chân lý nửa vời trên các phương tiện truyền thông… đã đưa nhiều bạn trẻ đến một não trạng và đời sống thực dụng, làm bất cứ điều gì để hưởng lợi… có dấu hiệu phá sản lương tâm”. (x. Thư Chung HĐGMVN 2010, số 5).Hay vì “Nền giáo dục Việt Nam chưa có một triết lý giáo dục nhân bản đích thực và toàn diện” (x. Thư Chung HĐGMVN 2010, số 7)?Có phải chính cái triết lý “duy vật cộng sản vô thần” đã và đang làm lệnh lạc cán cân đào tạo giáo dục người trẻ nên con người quân bình hài hòa giữa cái hồn và cái xác, giữa vật thể và tâm linh, giữa cá nhân và tập thể, giữa cái thật và cái giả chăng? Con người chỉ được phát triển hài hòa giữa hai chiều kích phàm nhân và thần linh, giữa chiều kích đạo lý và tôn giáo. Hình ảnh trục tọa độ trong toán học có thể giúp hiểu vấn đề dễ dàng hơn!

Trục hoành độ là trục quan hệ giữa con người với con người là những thụ tạo có sống có chết. Đó là trục đạo đức dạy con người “sống tốt với nhau”, sống “ăn ngay ở lành”. Trục tung độ là trục tôn giáo, trục tâm linh nói tới mối quan hệ giữa con người thụ tạo với Đấng Tạo Hóa. Đó là trục tôn giáo. Lý tưởng nhất, hài hòa nhất, tốt đẹp nhất là chỗ điểm O của hai trục gặp nhau. Nói theo ngôn ngữ của Tin Mừng thì trục hoành độ diễn tả lòng yêu người còn trục tung độ, tình yêu Chúa. Yêu Chúa yêu người là một! (x. Ga 13,34.35; Mt 22,37-45). Không thể chọn một bỏ một! Thiếu một là khập khễnh. Nghiêng nặng về một bên là “quá khích hoặc cuồng tín, chỉ gây thảm họa cho bản thân và cho tha nhân”! Lịch sử ghi lại bao mất mát bao đau thương do các nền giáo dục què quặt sản sinh những nhà độc tài tàn bạo như Hitler, như Staline, như Mao Trạch Đông….! Ngày nay cũng đầy dẫy những con người “tàn bạo” như thế đã và đang bị đào thải như vừa xảy ra ởTunisia, Ai Cập,Libya! Khởi đầu với một chàng sinh viên nghèo Bouazizi, 26 tuổi, bị cảnh sát tịch thu gánh hàng rong trên hè phố! Cảm nghiệm cảnh “bị áp bức”, anh đã quyết dùng mạng sống mình làm cây đuốc sống để soi đường chỉ lối cho dân tộc anh cũng như cho toàn thế giới đứng lên tìm cuộc sống mới vào ngày Thứ Sáu,17/12/2010! Anh đã tắt thở ngày 04.01.2011)!

Có điều đáng suy nghĩ và khó hiểu là dưới trướng của các lãnh tụ độc tài, độc đoán, độc ác… lại có rất nhiều nhà trí thức, có học vị cao, có bằng cấp đầy mình, có chữ đầy đầu mà vẫn nhắm mắt vùi đầu phục vụ tiếp tay giết người, cướp của mà không thấy ngượng ngùng xấu hổ? Nền giáo dục nào đã đưa đẩy con người “thơ bé” thành những người “man dại” đến như vậy? Thật đáng khiếp sợ!

II. Nguyện ước vươn tới!

Các con rất thân mến,

Quả thực, ngày nay các con đang được hưởng một nền giáo dục “có vấn đề”!? Quanh các con, không biết bao nhiêu thứ vây bủa và tấn công khối óc, con tim và cả ngày sống! Những căn bệnh gian dối, lừa đảo, ích kỷ, hưởng thụ… không để các con được an bình lành lặn! Cái nạn “thành tích, gian dối”, cái dịch “học thêm, kèm thêm”, đang bào mòn óc thông minh, trí sáng tạo và sức lực của các con! Những thứ đó đã và đang sản sinh những lớp người “giả” cho thế hệ ngày mai. Chúng đã và đang len lỏi vào tận trong cung lòng thâm sâu của các con và ngay cả trong gia đình các con. Có khi cả trong các cơ sở đào tạo của các tôn giáo nữa! Rất quỷ quyệt! Quá tinh vi! Thật khôn lường! Cần thận trọng để vượt qua!

Trong khi đó, “…Các tôn giáo cũng như nhiều người thiện chí vẫn chưa có điều kiện pháp lý để đóng góp tích cực vào việc xây dựng Đất Nước, cách riêng trong lãnh vực giáo dục, y tế và bác ái”. (Thư Chung HĐGMVN 2010, số 6). Cần có bàn tay đóng góp của mọi thành phần trong dân, nhất là các tôn giáo, mới hy vọng có một nền giáo dục quân bình và tiên tiến!

Phần các con, hãy sống một cuộc sống hài hòa thống nhất giữa đức tin và lý trí! Đừng coi nhẹ bên nào. Hãy chăm ngoan học hành tu luyện con người mình. Học làm người, làm người con Chúa, làm anh em với mọi người. Hãy dốc toàn tâm toàn ý cho việc học tập. Biết phân định tốt xấu trong đục qua cuộc sống! Can đảm tôi luyện thành những người công dân có một đức tin tôn giáo sống động, một vốn kiến thức phong phú sáng suốt hầu góp phần xây dựng một xã hội giàu bác ái yêu thương, cùng nhau biết tôn trọng sự thật và sự sống! Cần xác định rõ sự hài hòa thống nhất giữa đức tin và lý trí như Thánh Augustinô đã nói “Bạn hãy hiểu để tin; bạn hãy tin để hiểu” (x.GLCG số 157& 158) hay như Thánh John Henry Newman đã viết “Mười ngàn nỗi khó khăn không làm thành một sự hồ nghi”!

Cụ thể, cha nhắc lại cho các con mấy việc mà các con có thể làm ngay ngõ hầu bù đắp phần nào thiếu sót hôm nay:

1. Chăm học. Tất cả cho việc học. Học làm người tốt. Học Lời Chúa. Học chữ. Học nghĩa. Học có phương pháp. Các bậc cha mẹ cần cương quyết chăm lo việc học Lời Chúa và Giáo huấn của Hội Thánh cùng với việc học văn hoá! Không chọn một bỏ một! Các thầy cô Công Giáo cần đi đầu trong việc loại bỏ cái nạn dạy thêm dạy kèm bằng cách chuẩn bị bài vở dạy thật tốt ngay tại trường lớp! Cần chấp nhận một cuộc sống “khó nghèo” để không biến “giáo dục” thành “thương mại”.

2. Sống đạo tốt! Người công giáo phải là người tốt. Người tốt là người sống chân thật yêu thương. Nơi người tốt không có gian dối hay giả hình; không có lười biếng hay ích kỷ; không có kỳ thị hay phân biệt đối xử hoặc bất công.

3. Với cái hồn tông đồ: Các con hãy sống tinh thần “được sai đi” dưới tác động của Chúa Thánh Thần! Sống như men như muối như ánh sáng trần gian (x. Mt 5,13.14) ngay trong gia đình cũng như ngoài xã hội, trong trường lớp cũng như ngoài đường phố. Khắp mọi nơi, trong mọi lúc, với hết mọi người!

4. Cầu nguyện: Cầu nguyện cho một nền giáo dục chân chính! “Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5;x. Thư Chung 2010, số 37). Cầu nguyện Chúa soi sáng cho các nhà chức trách thấy rõ thực trạng giáo dục hôm nay và can đảm trao lại cho các tư nhân và các tôn giáo cái quyền giáo dục cũng như các cơ sở giáo dụcđang nắm giữ để cùng nhau góp phần đưa nền giáo dục nước nhà đi lên!

Các con thân mến,

Nguyện xin Chúa ban cho các con một năm học tốt đẹp thực sự, để trở thành những con người có cái tâm ngay thẳng, có cái đầu minh mẫn để trở nên những con người phát triển quân bình toàn diện ngõ hầu phục vụ Đất Nước và hăng say loan báo Tin Mừng tình thương cho mọi người.

Xin Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng bầu cử cho các con để các con biết noi gương Chị Thánh sống chứng nhân Tin Mừng ngay trong môi trường học đường và khắp mọi nơi.

Thân mến,

+ Micae Hoàng Đức Oanh

Giám mục Giáo phận Kon Tum.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

MẦM MỐNG ƠN GỌI


Mầm non Ơn gọi
03.10.2011 01:15
Xem hình


Lời của Chúa – lời của một vị Mục Tử nhân lành không chỉ mạnh mẽ mà còn có một sức hút, rất lôi cuốn, kỳ diệu, đậm đà, rất cay đắng nhưng sẽ có ngọt ngào vì đó không phải là lời của con người trần thế mà là một Mục Tử hết lòng vì đoàn chiên, hy sinh bảo vệ đoàn chiên để đoàn chiên được sống hạnh phúc.
Mầm non Ơn gọi


Bạn thân mến!

Lời kêu gọi của Chúa thật nhẹ nhàng và tha thiết nhưng lại chứa đựng một tinh thần mạnh mẽ, mang một niềm tin vững vàng nơi những con người hăng say vác thánh giá nặng mà bước theo những bước chân đau khổ, mệt nhọc, nặng nề của Chúa Giêsu – Chúa chúng ta. Lời của Chúa – lời của một vị Mục Tử nhân lành không chỉ mạnh mẽ mà còn có một sức hút, rất lôi cuốn, kỳ diệu, đậm đà, rất cay đắng nhưng sẽ có ngọt ngào vì đó không phải là lời của con người trần thế mà là một Mục Tử hết lòng vì đoàn chiên, hy sinh bảo vệ đoàn chiên để đoàn chiên được sống hạnh phúc
Đặc biệt hơn nữa, khi lời mời gọi của Chúa đã đến với giáo xứ Quần Cống chúng ta, một hồng ân đặc biệt mà Chúa đã ban cho chúng ta qua các đấng bậc hướng dẫn đàng thiêng liêng. Được thành lập vào năm 2003 do cha xứ cựu Phao-lô Nguyễn Hòa Kiên kêu gọi, ngài đã mời gọi tất cả những người con Quần Cống hãy dấn thân, hãy bước theo con đường phục vụ Giáo hội và muôn dân, hãy đáp lại tiếng Chúa mời gọi chúng ta
Bước đầu thành lập, lớp ơn gọi tuy còn nhiều bỡ ngỡ, còn non trẻ và ngập ngừng, nhưng dưới sự dẫn dắt, lãnh đạo của cha xứ Phao-lô – vị mục tử mang theo hình ảnh của Đức Ki-tô luôn không ngừng quan tâm, giúp đỡ lớp, tạo điều kiện cho các  buổi học tập, sinh hoạt, chia sẻ và còn động viên những mầm mống ơn gọi của giáo xứ, giáo hội ngày một trưởng thành, lớn mạnh
Sau hai năm gắn bó với lớp, người cha yêu dấu của chúng ta đã tạm biệt giáo xứ Quần Cống thân yêu để đi sang một mảnh đất mới theo tiếng gọi vâng phục đấng bản quyền Giáo phận. Giáo xứ Quần Cống nói chung, lớp Ơn gọi nói riêng rất biết ơn cha vì những việc mà cha đã làm cho cộng đoàn giáo xứ. Lớp Ơn gọi mãi không quên vị đã sáng lập nên lớp và cầu nguyện cho ngài luôn được khỏe mạnh, tràn đầy ơn Chúa trong nhiệm sở mới của ngài
Đến nay, lớp Ơn gọi đã được hơn 8 năm. Trong 8 năm này đã trải qua bao nhiêu khó khăn, thử thách và lớp cũng không ngừng phát triển về mặt nhân đức, tri thức cũng như đời sống tâm linh. Thời gian trôi qua, lớp Ơn gọi cũng đã chuyển giao nhiều thế hệ, nhiều người đã trưởng thành và bền đỗ trong đời sống ơn gọi của mình. Không chỉ bó hẹp trong phạm vi giáo xứ Quần Cống, các giáo xứ lân cận như Thánh Thể hay xa hơn như Lạc Thành, Cát Phú cũng tham gia lớp. Hàng tháng, lớp Ơn gọi giáo miền gặp mặt vào Chúa nhật tuần thứ 2 trong tháng. Trong buổi học này có phần sinh hoạt của Ban văn nghệ giáo miền với những trò chơi sôi động và náo nhiệt. Sau phần sinh hoạt là giờ học tập do cha chánh xứ Gioakim Nguyễn Hữu Văn đứng lớp. Ngài luôn kề cận, gắn bó và giúp đỡ những mần non. Bên cạnh đó còn có quý dì dòng Đaminh cũng luôn quan tâm đến lớp
Ngoài ra, các hạt giống ơn gọi trong giáo xứ Quần Cống còn gặp mặt vào tối thứ năm các tuần thứ hai và thứ tư trong tháng. Các buổi gặp mặt cũng đầy đủ các phần: học tập, sinh hoạt – chia sẻ, cầu nguyện, chuẩn bị cho buổi gặp mặt giáo miền.
Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn của lớp Ơn gọi ngày nay là vì nhiều bạn tham gia theo phong trào dẫn tới chất lượng học tập cũng như hoạt động của lớp chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng được lòng mong muốn của những tâm hồn nhiệt thành dấn thân.
Ngày nay, lớp Ơn gọi giáo xứ Quần Cống đang từng bước phát triển, đang cố gắng hồi sinh để trở thành môi trường tốt cho những người trẻ muốn dấn thân theo Chúa bước tiếp trên hành trình lên đồi Can-vê. Hy vọng tiếng gọi Chúa vẫn còn mãi được lắng nghe và đáp trả để đồng lúa của Giáo hội không bao giờ vắng thợ gặt…

Paul V.V.T